phải (4)

Lao động xuất cảnh

3bJ8ncmK

Cơ khí

May

May công nghiệp

che bien nam

Nhà máy sản xuất chế biến nấm

Lắp ráp linh kiện điện tử Nhật Bản

Lắp ráp linh kiện điện tử

 

Vào một chiều cuối năm, chị gọi điện cho tôi từ thành phố Đài Bắc, nơi chị đã sống và làm việc ở đó bốn năm rồi.

Chị hồ hởi khoe với tôi chị vừa được giải trong cuộc thi khéo tay hay làm do Hiệp hội Những người lao động nước ngoài ở Đài Loan tổ chức. Tác phẩm dự thi của chị là một sản phẩm gốm sứ nghệ thuật được sáng tạo bởi chính bàn tay chị. Chị không phải là một nghệ nhân, càng không phải là một nhà điêu khắc hay gì gì đó. Chị chỉ là một người đàn bà như những người đàn bà Việt Nam lam lũ đi giúp việc ở nước ngoài. Những người đó thường được gọi là Osin. Và chị là một Osin người Việt ở Đài Bắc, Đài Loan.

Ảnh: Chị Phạm Thị Tường với bài thơ của mình

Khi phải chứng kiến cảnh sống cùng cực và bất hạnh của một số phụ nữ Việt Nam đi làm dâu xứ người và mới đây là của những người lao động Việt Nam ở Madives trong một video clip, tôi mới thấy chị là một người may mắn. Chị đến Đài Bắc bốn năm trước để giúp việc cho một gia đình. Và đó lại là một gia đình trí thức Đài Bắc. Ông chủ là một giáo sư đại học, còn vợ ông là một nghệ sĩ tạo hình. Trong những năm giúp việc, chị được ông bà chủ nhà khuyến khích học tiếng Hoa. Họ nói cho chị nghe về nghệ thuật và ý nghĩa của đời sống một con người. Bà chủ nhà đã dạy cho chị cách làm đồ gốm sứ nghệ thuật. Bởi thế, tôi không hề ngạc nhiên khi nghe tin chị được giải cho một tác phẩm gốm sứ nghệ thuật của mình.

Khoảng nửa năm trước, chị cũng gọi điện cho tôi vào một cuối chiều, xúc động báo cho tôi biết chị vừa đoạt giải nhất trong một cuộc thi thơ giành cho những người nước ngoài sinh sống và làm việc ở Đài Loan. Rồi chị đọc cho tôi nghe bài thơ ấy qua điện thoại. Chị tha thiết nhờ tôi hãy góp ý cho chị về bài thơ. Nhưng tôi đã không có ý kiến gì. Bởi lúc đó, tôi thấy rằng tôi không được phép can dự cho dù thô thiển hay tinh tế vào niềm vui của chị, vào một tâm hồn đang yêu cuộc sống này tràn ngập. Bởi những bài thơ chị viết ra khác hoàn toàn với nhiều bài thơ của những người mang danh nhà thơ như tôi. Những bài thơ của một khát vọng sống, khát vọng yêu thương vô bờ và trong sáng lạ kỳ. Những bài thơ của chị chính là hành động sống của chị. Chúng đồng nhất với chị. Chúng không có khoảng cách và sự khác nhau giữa bài thơ và đời sống của tác giả như rất nhiều những bài thơ của các nhà thơ chúng ta. Chính vì thế mà tôi không góp ý. Sẽ rất hài hước và thảm hại khi chúng ta góp ý niềm vui, góp ý ước mơ hay góp ý sự chân thành của người khác. Tôi nghĩ như vậy.

Một năm trước, tôi đến Đài Loan dự Liên hoan Thơ quốc tế ở Đài Bắc. Ngay buổi chiều vừa đặt chân đến đất lạ, ban tổ chức đã đưa cho tôi tập tuyển thơ của các tác giả tham dự liên hoan thơ in chủ yếu bằng hai thứ tiếng Anh và Hoa. Trong đó có một số bài thơ của các tác giả mà tuyển tập ghi rõ: Thơ của các tác giả là người lao động nước ngoài. Và tôi đọc thấy một cái tên: Pham Thi Tuong. Tôi biết đó là tên của một người Việt Nam. Nhưng tôi chẳng có thêm thông tin gì về con người này.

Và cho đến ngày cuối cùng của liên hoan thơ thì tôi gặp người có cái tên ấy. Đó là một người đàn bà Việt Nam đang giúp việc cho một gia đình ở Đài Bắc. Chị tên là Phạm Thị Tường. Khi người đề dẫn chương trình buổi đọc thơ bế mạc liên hoan thơ giới thiệu chị lên đọc thơ thì tôi mới biết chị. Một phụ nữ thuỳ mị mỉm cười bước lên sân khấu. Chị giới thiệu về bản thân mình bằng tiếng Hoa. Rồi chị ngâm bài thơ do chị sáng tác. Đây là cách ngâm thơ truyền thống của Việt Nam. Bài thơ nói về hai người mẹ: một người mẹ Việt và một người mẹ Đài Loan. Người mẹ Đài Loan ấy chính là bà chủ nhà nơi chị đang giúp việc.

Tôi đã đến chào chị và chúc mừng khi chị ngâm xong bài thơ. Chị rất xúc động và rất vui khi gặp tôi, một nhà thơ Việt Nam. Nhưng chị đâu biết rằng tôi còn xúc động và vui hơn khi biết chị. Bởi lúc đó, tôi lại nhận ra một lần nữa rằng: thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung vẫn còn nguyên vẹn sự kỳ diệu và uy quyền của nó. Nó vẫn làm cho những đời sống cho dù tăm tối và đói rét nhất được toả sáng và trở nên thiêng liêng. Và chị, Phạm Thị Tường, là một ví dụ của điều đó. Một người giúp việc đã bước lên cùng một diễn đàn để đọc thơ cùng những nhà thơ quốc tế. Có phải người Đài Loan hay nói cụ thể hơn những người trong Ban tổ chức của Hiệp hội Những nhà thơ Đài loan đã “bình dân hoá” thơ ca, hay họ đã coi thơ ca là một lễ hội của mọi con người?

Phạm Thị Tường quê ở Hà Tĩnh. Nhà chị ở nông trường Thanh Hà. Chị đã từng làm công nhân ở nông trường này. Nhưng rồi chị bỏ nông trường. Bởi công việc ở nông trường không thể giúp chị ổn định được cuộc sống và nuôi con cái học hành. Suốt những năm tháng đó, đói nghèo luôn luôn ập đến với chị như một cơn ác mộng không bao giờ chấm dứt. Cuối cùng, chị đã phải cúi đầu lau nước mắt rời xa những người thân yêu đi giúp việc ở xứ người. Trước khi đi, chị chỉ nghĩ đến đó sẽ làm hết sức mình và tằn tiện đến mức có thể để kiếm từng đồng tiền cho gia đình chị. Chị đã ra đi mà chẳng biết ở xứ người kia chị sẽ sống như thế nào và người ta sẽ đối xử với chị ra sao. Trước khi đi, chị đã nghe đã đọc bao câu chuyện về số phận bi thảm của những người đi làm dâu hay làm người giúp việc ở xứ người. Nhưng người chồng đau ốm và những đứa con của chị đang trông chờ vào chị. Chị phải đi cho dù lòng đầy sợ hãi…

Chị luôn nói với tôi chị là người may mắn. Bởi chị đã giúp việc cho một gia đình trí thức, nghệ sĩ. Và ở đó, ý nghĩa tinh thần lớn lao của đời sống đã hiện ra trước chị. Nó làm chị thay đổi. Một thay đổi lớn lao. Cũng có bao người đi làm thuê xứ người như chị. Họ cũng được trả lương như chị, cũng tiết kiệm như chị, cũng được chủ nhà đối xử công bằng như chị. Và nhiều người sau khi trở về nước dù có thêm một khoản tiền thì cuộc đời họ vẫn u buồn. Bởi những đồng tiền kia không phải là phép thiêng đổi thay tâm hồn họ. Nhưng chị khác họ ở một điều vô cùng quan trọng. Đó là chị đã nhận ra ý nghĩa lớn lao đối với cuộc đời khi chị được sống trong một đời sống của văn hoá. Đời sống văn hoá ấy là của một gia đình trí thức, nghệ sĩ tạo nên. Họ đã đưa chị vào đời sống đó. Điều quan trọng là chị nhận ra được đời sống tinh thần ấy. Và khi nhận ra thì chị thấy lòng chị đổi thay và mở ra một đôi cánh. Chị thấy cuộc đời không chỉ là những đồng tiền mà có một điều khác thật lớn lao và thật cần thiết cho cuộc đời chị. Đó là những giấc mơ đẹp và thiêng liêng về cuộc sống này.

Có lần tôi hỏi sao chị không cho xuất bản những bài thơ của mình để trở thành nhà thơ như rất nhiều người đang làm vậy ở Việt Nam. Tất nhiên hỏi vậy là tôi muốn hiểu chị hơn. Tôi muốn xem chị có giống bao người háo danh và ảo tưởng như tôi từng biết ở Việt Nam hay không. Tôi thực sự xin lỗi chị vì điều ấy. Khi nghe tôi hỏi vậy, chị hoảng hốt xua tay và nói với tôi đừng bao giờ hỏi chị như vậy. Chị chỉ biết rằng chị làm thơ khi trong lòng có những điều gì đó reo vang và những dòng chữ chị viết cho dù rất vụng về vẫn làm chị đổi thay. Chị thấy yêu và tin cuộc đời này hơn. Chị thấy những đày đoạ của đói nghèo và những u uẩn vẫn trĩu nặng tâm hồn chị bỗng tan biến. Chị là một ví dụ về những số phận nghèo khó không mơ ước, đầy muộn phiền, đầy sợ hãi và u uẩn… được đặt vào một môi trường văn hoá và văn hoá đã làm cho những giấc mơ đẹp đẽ thức dậy, toả sáng và làm tan đi những phần bóng tối đang phủ lên cuộc đời ấy.

Chị đã hết hợp đồng ba năm. Nhưng chủ nhà muốn chị ở với họ thêm ba năm nữa. Chị đã đồng ý. Giờ chỉ còn hai năm nữa là chị trở về nhà. Chị không biết sau khi trở về chị sẽ làm gì để sống. Nhưng điều đó không còn là nỗi sợ hãi đầy ác mộng như trước kia. Chị vẫn hàng ngày học thêm tiếng Hoa, vẫn viết những bài thơ từ những reo vang trong tâm hồn chị, vẫn học làm gốm sứ nghệ thuật… Chị thừa biết rằng: những thứ đó không giúp chị kiếm được một đồng nào khi trở về nhà, nhưng nó làm cho tâm hồn chị đổi thay. Nó làm cho chị thấy rằng: cuộc sống còn những lý do khác để con người sống có ý nghĩa nhất bên cạnh những đồng tiền.

 

 

Bài viết liên quan