phải (4)

Lao động xuất cảnh

3bJ8ncmK

Cơ khí

May

May công nghiệp

che bien nam

Nhà máy sản xuất chế biến nấm

Lắp ráp linh kiện điện tử Nhật Bản

Lắp ráp linh kiện điện tử

 

Những cử chỉ khi cần biết khi giao tiếp với người Nhật:

1. Một ngón tay cái chỉ lên trời có nghĩa là “sếp tôi”. 

2. Một vòng tròn bởi ngón tay cái và ngón trỏ nghĩa là “đồng xu”, “tiền”, hay “số không”. 

3. Đầu ngón tay trỏ xoa vào nhau có nghĩa giống như trận đấu kiếm người Nhật thời xưa và biểu thị rằng “hai nhóm hay hay cá nhân đang có bất hòa” .

4. Vòng ngón tay trỏ gần tai nghĩa là “ông ta đang điên tiết”, nhưng ở Nhật, người ta không lạm dụng những cử chỉ này trừ khi người đang được nói tới thật sự cuồng nộ. 

5. Bàn tay xòe ra úp dọc trên ngực, thường đi kèm với cúi đầu có nghĩa là “xin lỗi” . Cử chỉ này thường được bày tỏ khi ai đó muốn rời khỏi một cuộc gặp mặt .

6. Bàn tay để như trong mục số 5 nhưng phe phẩy trước ngực nghĩa là “không, cảm ơn “. “tôi không cần ”, hay “khỏi cần” 7. Tay phải duỗi ra, bàn tay vẫy xuống có nghĩa là “mời đi lối này” – cũng có khi người ta lầm tưởng cử chỉ này là chào tạm biệt.

8. Giả bộ gảy bàn tính nghĩa là “tôi (hay anh) sẽ tính toán”.

9. Giả bộ viết vào lòng bàn tay trong nhà hàng hay quán rượu nghĩa là “kêu tính tiền”.

10. Hai ngón tay khều vào lòng bàn tay, với người Nhật là bắt chước việc ăn Sushi, nghĩa là “ta gác công việc lại đi đến tiệm Sushi nhé”

11. Đưa ngón trỏ lên và chỉ vào (hay đụng vào chóp mũi) nghĩa là “chính tôi” hay “tôi sẽ làm”.

Tên riêng trong tiếng Nhật

Tên riêng ở Nhật Bản gây ra nhiều khó khăn đối với người nước ngoài, thậm chí đối với cả người Nhật, vì hầu như tất cả các chữ Hán đều có nhiều cách đọc – cả cách đọc theo âm Hán lẫn cách đọc theo âm Nhật. Bên cạnh đó, nói chung tên người Nhật gồm 2 chữ trở lên, nên thông thường không biết ghép âm như thế nào.

Trong khi đó, hiện tượng đồng âm khác nghĩa trong tiếng Nhật rất phổ biến, nhiều chữ khác nhau cùng mang một âm nên không dễ viết cho đúng tên. Chẳng hạn trong số các chữ Hán được quy định để đặt tên, 130 chữ có từ 10 cách đọc trở lên, còn các âm thông dụng như taka là âm của 168 chữ, nori là âm của 225 chữ khác nhau.

Hiragana và Katakana là hệ thống chữ viết truyền thống của Nhật.

Có một số chữ cũng như cách đọc được dùng khá phổ biến nên có thể biết ngay được cách đọc hoặc chữ viết một số tên nhất định. Tuy nhiên, vì không có hạn chế đối với cách đọc nên vẫn còn nhiều khả năng xảy ra rắc rối khi đọc những tên mới gặp lần đầu. Số lượng từ để đặt tên được quy định lần đầu tiên vào năm 1948, đến năm 1990 được hạn chế trong vòng 1.945 Hán tự thường dụng và có 284 chữ chỉ được dùng để đặt tên riêng.

Trước thế kỷ 8, có 2 loại tên nhóm chính trong xã hội Nhật Bản là uji, tức là họ, để chỉ các dòng họ hoặc thị tộc, và kabane là tước hiệu, phẩm hàm cao quý phong cho uji và các cá nhân, được truyền từ đời này sang đời khác. Đối với một cá nhân, kabane được đặt giữa tên của uji và tên riêng, ví dụ “Nakatomi no Muraji no Kamako” có nghĩa là ông Kamako thuộc dòng họ Nakatomi và mang tước hiệu muraji.

Trong thời Heian (794-1185), số người mang những họ liên quan đến hoàng gia và được ban tặng tên như Ariwara, Minamoto và Taira gia tăng rất nhiều nên cần phải chia nhỏ hơn. Và người ta thường phân biệt các nhóm nhỏ hơn bằng cách xác định theo địa danh mà họ sinh sống.

Từ thế kỷ 13 trở đi, các gia đình võ sĩ ở nông thôn tự phân biệt nhau trong cùng dòng họ bằng cách lấy địa danh làm họ nhỏ chung của gia đình, và tất cả các loại tên nhóm được ấn định hoàn toàn vào đầu thế kỷ 17. Trừ một vài ngoại lệ, nói chung, các gia đình thượng lưu mới có họ, còn những người khác chỉ gọi nhau bằng tên riêng, khi cần thiết thì ghép thêm từ chỉ công việc hoặc địa danh để phân biệt.

Tuy nhiên, năm 1870, tức 2 năm sau Minh Trị Duy Tân, tất cả mọi người đều được phép có họ và đến năm 1875, việc có họ trở thành điều bắt buộc. Mọi người tự đặt họ cho mình bằng cách mượn các họ có sẵn hoặc lấy những họ hoàn toàn mới.

Nói riêng về tên, xưa kia, trong khi dân thường nói chung không có họ và đàn ông hạ lưu dùng tên được đặt khi còn nhỏ suốt cả cuộc đời, đàn ông thuộc tầng lớp thượng lưu lại có thể có nhiều tên. 3 loại tên riêng chủ yếu là tên khi còn nhỏ, được đặt vào ngày thứ 7 sau khi chào đời và dùng cho tới khi 15 tuổi; tên thường dùng và tên chính thức – được đặt cùng một lúc khi người con trai đến tuổi 15.

Trước thế kỷ 9, trong sách sử Nhật Bản, tên của hầu hết các phụ nữ thường có đuôi -me, -iratsume hoặc -toji, ví dụ như “Shima-me”. Về sau, các phụ nữ quý tộc lấy tên chính thức gồm 1 chữ Hán cộng thêm chữ -ko, chẳng hạn “Sadako”. Phụ nữ hạ lưu không bao giờ dùng từ này nhưng trong thế kỷ 16 bắt đầu xuất hiện kiểu dùng chữ o- ở đầu tên, ví như “Oichi”. Thông lệ đó lan rộng trong thời Edo (1603-1868) khi hầu hết tên của phụ nữ gồm 2 âm tiết, thường được viết bằng hệ chữ kana và vị trí của người phụ nữ đó thể hiện rõ trong tên gọi.

Những thay đổi trong công cuộc Minh Trị Duy Tân đã dẫn đến việc ngày càng nhiều người dùng chữ Hán đặt tên. Số người dùng tên có chữ -ko tăng từ 3% vào giữa những năm 1880 lên tới 80% vào năm 1935. Tên của phụ nữ ngày nay thường theo thông lệ quý tộc cổ gồm 2 âm tiết và cộng thêm chữ -ko hoặc lấy những tên 3 âm tiết nghe rất thanh nhã như “Harue”. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng đặt tên con gái có chữ -ko đang giảm đi rất nhiều.

Hiện tại, hai họ phổ biến nhất ở Nhật Bản là Sato và Suzuki, mỗi họ chiếm hơn 1,5% dân số. Các họ thông dụng tiếp theo là Tanaka, Yamamoto, Watanabe, Kobayashi, Saito, Tamura, Ito và Takahashi. Về cách đọc họ, người ta thường dùng cách đọc theo âm Nhật.

Khi viết tên, người Nhật viết họ trước, tên sau, nhưng cách dùng tương đối giống với phương Tây. Thông thường trong xã giao, người Nhật gọi nhau bằng họ, rồi thêm một số từ vào sau như san (ông, bà, anh, chị), sensei (thầy, cô giáo), v.v… ví dụ Hashimoto-san, Tanaka-sensei. Trong gia đình hoặc giữa bạn bè thân thiết, mọi người mới gọi nhau bằng tên riêng.

Tên và họ của người Nhật Bản

Tên người Nhật gồm 2 chữ trở lên, nên thông thường không biết ghép âm như thế nào. Trong khi đó, hiện tượng đồng âm khác nghĩa trong tiếng Nhật rất phổ biến, nhiều chữ khác nhau cùng mang một âm nên không dễ viết cho đúng tên. Chẳng hạn trong số các chữ Hán được quy định để đặt tên, 130 chữ có từ 10 cách đọc trở lên, còn các âm thông dụng như taka là âm của 168 chữ, nori là âm của 225 chữ khác nhau.

Có một số chữ cũng như cách đọc được dùng khá phổ biến nên có thể biết ngay được cách đọc hoặc chữ viết một số tên nhất định. Tuy nhiên, vì không có hạn chế đối với cách đọc nên vẫn còn nhiều khả năng xảy ra rắc rối khi đọc những tên mới gặp lần đầu. Số lượng từ để đặt tên được quy định lần đầu tiên vào năm 1948, đến năm 1990 được hạn chế trong vòng 1.945 Hán tự thường dụng và có 284 chữ chỉ được dùng để đặt tên riêng.

Trước thế kỷ 8, có 2 loại tên nhóm chính trong xã hội Nhật Bản là uji, tức là họ, để chỉ các dòng họ hoặc thị tộc, và kabane là tước hiệu, phẩm hàm cao quý phong cho uji và các cá nhân, được truyền từ đời này sang đời khác. Đối với một cá nhân, kabane được đặt giữa tên của uji và tên riêng, ví dụ “Nakatomi no Muraji no Kamako” có nghĩa là ông Kamako thuộc dòng họ Nakatomi và mang tước hiệu muraji.

Trong thời Heian (794-1185), số người mang những họ liên quan đến hoàng gia và được ban tặng tên như Ariwara, Minamoto và Taira gia tăng rất nhiều nên cần phải chia nhỏ hơn. Và người ta thường phân biệt các nhóm nhỏ hơn bằng cách xác định theo địa danh mà họ sinh sống.

Từ thế kỷ 13 trở đi, các gia đình võ sĩ ở nông thôn tự phân biệt nhau trong cùng dòng họ bằng cách lấy địa danh làm họ nhỏ chung của gia đình, và tất cả các loại tên nhóm được ấn định hoàn toàn vào đầu thế kỷ 17. Trừ một vài ngoại lệ, nói chung, các gia đình thượng lưu mới có họ, còn những người khác chỉ gọi nhau bằng tên riêng, khi cần thiết thì ghép thêm từ chỉ công việc hoặc địa danh để phân biệt.

Tuy nhiên, năm 1870, tức 2 năm sau Minh Trị Duy Tân, tất cả mọi người đều được phép có họ và đến năm 1875, việc có họ trở thành điều bắt buộc. Mọi người tự đặt họ cho mình bằng cách mượn các họ có sẵn hoặc lấy những họ hoàn toàn mới.

Nói riêng về tên, xưa kia, trong khi dân thường nói chung không có họ và đàn ông hạ lưu dùng tên được đặt khi còn nhỏ suốt cả cuộc đời, đàn ông thuộc tầng lớp thượng lưu lại có thể có nhiều tên. 3 loại tên riêng chủ yếu là tên khi còn nhỏ, được đặt vào ngày thứ 7 sau khi chào đời và dùng cho tới khi 15 tuổi; tên thường dùng và tên chính thức – được đặt cùng một lúc khi người con trai đến tuổi 15.

Trước thế kỷ 9, trong sách sử Nhật Bản, tên của hầu hết các phụ nữ thường có đuôi -me, -iratsume hoặc -toji, ví dụ như “Shima-me”. Về sau, các phụ nữ quý tộc lấy tên chính thức gồm 1 chữ Hán cộng thêm chữ -ko, chẳng hạn “Sadako”. Phụ nữ hạ lưu không bao giờ dùng từ này nhưng trong thế kỷ 16 bắt đầu xuất hiện kiểu dùng chữ o- ở đầu tên, ví như “Oichi”. Thông lệ đó lan rộng trong thời Edo (1603-1868) khi hầu hết tên của phụ nữ gồm 2 âm tiết, thường được viết bằng hệ chữ kana và vị trí của người phụ nữ đó thể hiện rõ trong tên gọi.

Những thay đổi trong công cuộc Minh Trị Duy Tân đã dẫn đến việc ngày càng nhiều người dùng chữ Hán đặt tên. Số người dùng tên có chữ -ko tăng từ 3% vào giữa những năm 1880 lên tới 80% vào năm 1935. Tên của phụ nữ ngày nay thường theo thông lệ quý tộc cổ gồm 2 âm tiết và cộng thêm chữ -ko hoặc lấy những tên 3 âm tiết nghe rất thanh nhã như “Harue”. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng đặt tên con gái có chữ -ko đang giảm đi rất nhiều.

Hiện tại, hai họ phổ biến nhất ở Nhật Bản là Sato và Suzuki, mỗi họ chiếm hơn 1,5% dân số. Các họ thông dụng tiếp theo là Tanaka, Yamamoto, Watanabe, Kobayashi, Saito, Tamura, Ito và Takahashi. Về cách đọc họ, người ta thường dùng cách đọc theo âm Nhật.

Khi viết tên, người Nhật viết họ trước, tên sau, nhưng cách dùng tương đối giống với phương Tây. Thông thường trong xã giao, người Nhật gọi nhau bằng họ, rồi thêm một số từ vào sau như san (ông, bà, anh, chị), sensei (thầy, cô giáo), v.v… ví dụ Hashimoto-san, Tanaka-sensei. Trong gia đình hoặc giữa bạn bè thân thiết, mọi người mới gọi nhau bằng tên riêng.

Tiếng Nhật Nihon go

Trong tiếng Nhật có nhiều từ vựng mượn của Trung Quốc, và chữ Hán được coi là một phần của tiếng Nhật hiện nay. Chỉ cần giở một tờ báo hàng ngày, có thể thấy rất nhiều chữ Hán. Ví dụ, “kokkai” là “quốc hội”, “keizai” là “kinh tế”, “gaikoku” là ngoại quốc, v,v… Đại khái, chữ Hán chiếm khoảng 50-60% số chữ trên bài báo.

Ngoài chữ Hán, trong tiếng Nhật có 2 loại chữ khác là hiragana và katakana. 2 loại chữ kana này đều là chữ phiên âm do người Nhật phát minh ra. Ngày xưa, người Nhật không có chữ viết riêng nên ban đầu mượn âm chữ Hán để ghi chép câu nói của mình và soạn thảo văn bản. Sau đó, trong thời Heian (794-1185), người Nhật dựa trên chữ Hán tạo thành 2 loại chữ kana để ghi chép câu nói. Đó chính là hiragana và katakana. Hiragana vốn là chữ Hán viết giản lược còn katakana là một phần của chữ Hán tạo thành. Katakana dùng để phiên âm các chữ có nguồn gốc nước ngoài. Có thể nói, những chữ viết của tiếng Nhật đều xuất phát từ chữ Hán.

Chữ Hán trong tiếng Nhật có rất nhiều cách đọc khác nhau, thậm chí 1 chữ có tới 5 cách đọc hoặc hơn. Tại sao lại phức tạp như vậy? Trong tiếng Nhật có 2 loại cách đọc chữ Hán là “Kun-yomi”, tức cách đọc theo âm Nhật Bản, và “On-yomi” là cách đọc theo âm Hán. Cũng như tiếng Việt, trong tiếng Nhật có từ vựng thuần Nhật mà từ xưa người ta sử dụng trong cuộc sống. Ví dụ, quan hệ giữa từ “sinh” và “sống” trong tiếng Việt: 2 từ này có cùng nghĩa nhưng “sinh” là từ mượn từ tiếng Trung Quốc, “sống” là từ thuần Việt. Trong trường hợp tiếng Nhật, từ “sống” thuần Nhật là “ikiru”, nên người ta sử dụng từ “sinh” trong chữ Hán và chữ phiên âm kana để viết “ikiru”. Như vậy, chữ “sinh” đã có cách đọc “i”. Đây là Kun-yomi. Chữ “sinh” cũng có nghĩa là phát sinh ra và nói bằng từ thuần Nhật là “umu”. Để viết từ vựng này, người ta dùng chữ “sinh” của chữ Hán và chữ “mu” của kana. Khi đó, chữ “sinh” lại được đọc là “u”. Chính vì thế, một chữ có nhiều cách đọc Kun-yomi.

Bên cạnh đó, người Nhật sử dụng các từ vựng của Trung Quốc để làm cho tiếng Nhật phong phú hơn, như “gakusei” (học sinh), “seikatsu” (sinh hoạt). Cách đọc của những từ mượn như trên là On-yomi. On-yomi của 1 chữ cũng có nhiều cách đọc. Ví dụ, chữ “hành” có cách đọc On-yomi là “ko”, “gyo”, “an”. Điều này liên quan đến lịch sử giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Nói cách khác, các cách đọc On-yomi phản ánh cách đọc tiếng Trung Quốc của từng thời đại và địa điểm giao lưu giữa 2 nước. Trong On-yomi có 4 nhóm là Ngô âm, Hán âm, Đường âm và Tống âm. Ngô âm là cách đọc theo âm Hán của vùng nước Ngô cổ đại, tức vùng hạ lưu sông Trường Giang. Hán âm là cách đọc theo người thủ đô Trường An trong thời đại nhà Đường. Vào thời Đường, tức thời đại Nara và Heian của Nhật Bản, nhiều nhà sư, lưu học sinh của Nhật sang Trường An để học hỏi văn hóa tiên tiến của Trung Quốc. Và cùng với nhiều cuốn sách, cách đọc chữ Hán của thời kỳ này được đưa vào NB. Cách đọc Hán âm cũng được gọi là “Chính âm”. Đường âm là những cách đọc được đưa vào Nhật từ các thời đại nhà Tống, Nguyên, Minh, Thanh của Trung Quốc, còn Tống âm là những cách đọc do các nhà sư trong thời đại Kamakura (thế kỷ 12-14) của Nhật Bản đưa về cùng với các quyển kinh Phật giáo. Đối với chữ “hành”, đọc theo Ngô âm là “gyo”, Hán âm là “ko”, Đường âm là “an”.

Nguồn gốc của chữ Nhật Bản khá rõ vì chữ Nhật Bản được phát minh ra sau khi đã có ghi chép lịch sử. Nhưng “tiếng Nhật nói” đã có từ thời tiền sử nên tìm ra nguồn gốc khó hơn. Có 2 vấn đề được nêu lên: (1) Các từ vựng tiếng Nhật được phát minh ra như thế nào và từ đâu đến? (2) Ngữ pháp của tiếng Nhật hoàn toàn khác tiếng Trung Quốc, vậy tiếng Nhật thuộc hệ nào trong các thứ tiếng trên thế giới?

Trước khi đi sâu về nguồn gốc tiếng Nhật, xin giới thiệu sơ lược về những đặc trưng ngôn ngữ học của tiếng Nhật.

Cấu tạo của câu tiếng Nhật cơ bản là [Chủ ngữ] + [Bổ ngữ chỉ mục đích] + [Vị ngữ]. Ví dụ: “Tôi học tiếng Nhật”, thứ tự trong câu tiếng Nhật sẽ là “Tôi” + “tiếng Nhật” + “học”

Song, cấu tạo cơ bản của câu tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh là [Chủ ngữ] + [Vị ngữ] + [Bổ ngữ]. Nhìn qua các ngôn ngữ trên thế giới về cách xếp thứ tự các bộ phận trong câu, những thứ tiếng có cấu trúc giống tiếng Nhật là tiếng Triều Tiên, tiếng của dân tộc thiểu số NB là Ainu, tiếng Mông Cổ, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Hinđi của Ấn Độ, tiếng Miến Điện, v,v… Một đặc trưng khác là trong tiếng Nhật có trợ từ như “ni”, “o”, v,v… để biểu hiện quan hệ giữa 2 từ vựng trong 1 câu. Đặc trưng thứ 3 là định ngữ được đặt trước danh từ: chẳng hạn trong “shiroi hana”, “shiroi” là tính từ có nghĩa là “trắng”, bổ nghĩa cho danh từ “hana” là “hoa”. Tiếng Việt thì ngược lại, nói là “bông hoa trắng”.

Những đặc điểm về mặt âm vị như sau:

1/ không có từ vựng thuần Nhật bắt đầu với âm “r”.

2/ không có từ vựng thuần Nhật bắt đầu với âm “b, p, g, z, d”.

3/ không có từ vựng với 2, 3 phụ âm liên tục, ví dụ như từ “frankly” hay “strike” của tiếng Anh.

4/ không phân biệt “l” và “r”.

5/ không phân biệt “th” và “t”, “kh” và “k”.

6/ hầu hết từ vựng kết thúc với nguyên âm.

Trong thời Edo đã có một số học giả đề cập tới những đặc trưng kể trên của tiếng Nhật, nhưng khi đó chưa đạt nhiều thành quả quan trọng. Sau khi ngành ngôn ngữ học của phương Tây được đưa vào Nhật Bản, các nhà nghiên cứu áp dụng môn học này vào việc phân tích những đặc trưng của tiếng Nhật, để tìm hiểu xem tiếng Nhật thuộc hệ nào trong số các hệ thống ngôn ngữ trên thế giới.

Cần phải nói, về vấn đề này chưa có kết luận thống nhất trong ngành nghiên cứu tiếng Nhật. Có nhiều học thuyết về nguồn gốc tiếng Nhật nhưng hai học thuyết được nhiều người quan tâm nhất là:

(1) Tiếng Nhật thuộc nhóm thứ tiếng Ural-Altai, cùng với tiếng Triều Tiên, tiếng Mông Cổ, tiếng Ainu.

(2) Tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của các thứ tiếng miền nam nhiều hơn, là các thứ tiếng thuộc nhóm Autronesia như tiếng Malaysia, Indonesia, Philippines hoặc nhóm thứ tiếng Miến Điện-Tây Tạng.

Học thuyết (1) coi trọng điểm chung về ngữ pháp. Các thứ tiếng thuộc nhóm Ural-Altai có ngữ pháp giống tiếng Nhật. Chẳng hạn, bổ ngữ chỉ mục đích đặt trước vị ngữ, định ngữ đặt trước danh từ v,v… Học thuyết này – do những học giả ngôn ngữ học nổi tiếng của Nhật như ông Shinmura Izuru, ông Kinda-ichi Kyosuke đề ra và ủng hộ – phổ biến rộng rãi trong thời kỳ ban đầu của ngành nghiên cứu nguồn gốc tiếng Nhật.

Đối với học thuyết (2), ông Izui Hisanosuke là người đầu tiên đề cập tới quan hệ giữa tiếng Nhật và các thứ tiếng của phía nam Nhật Bản như tiếng Malaysia. Là học trò của ông Shinmura, ông Izui ủng hộ học thuyết (1), nhưng ông nghĩ tiếng Nhật cũng chịu ảnh hưởng với mức độ nào đó của các thứ tiếng miền nam. Sau đó, những học giả như Murayama Shichiro, Matsumoto Nobuhiro đã ủng hộ và phát triển học thuyết này. Học thuyết (2) dựa trên cấu tạo của từ vựng trong tiếng Nhật. Những học giả theo dõi học thuyết này nói rằng cấu tạo đa âm tiết và kiểu phát âm của tiếng Nhật giống với các thứ tiếng thuộc nhóm Austronesia hoặc nhóm thứ tiếng Miến Điện-Tây Tạng, đồng thời có nhiều từ vựng trong tiếng Nhật “đồng nghĩa giống âm” với từ vựng của các thứ tiếng đó. Học thuyết (2) coi trọng vai trò của các thứ tiếng miền nam hơn nhưng không hoàn toàn phủ định ảnh hưởng của các thứ tiếng nhóm Altai, vì ngữ pháp của các thứ tiếng như Malaysia, Philippines khác với tiếng Nhật về nhiều điểm. Sau thế chiến thứ 2, học thuyết (2) bắt đầu được phổ biến để bổ sung khuyết điểm của học thuyết (1). Vì vậy, 2 học thuyết kể trên không mâu thuẫn với nhau. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của cả nhóm thứ tiếng Altai và nhóm thứ tiếng Austronesia.

Tóm lại, tuy không phải là kết luận cuối cùng nhưng người ta cho rằng, khoảng 5.000-10.000 năm trước, tại vùng đông bắc lục địa Châu Á đã hình thành một thứ tiếng tổ tiên của tiếng Nhật, liên quan đến nhóm tiếng Altai và ngữ pháp tiếng Nhật hiện nay. Sau đó, thứ tiếng này bắt đầu được chia thành 3 thứ tiếng khác là tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên và tiếng Ainu. Và khoảng 3.000-4.000 năm trước, các từ vựng cơ bản được đưa sang Nhật Bản từ các thứ tiếng miền nam như Indonesia, Khơme, v.v… Cách đây khoảng 2.000-2.500 năm, các từ vựng như số từ và từ chỉ các bộ phận của cơ thể con người, thực vật được đưa sang Nhật Bản từ khu vực miền nam Trung Quốc. Rồi sau công nguyên, các từ vựng chữ Hán được đưa từ Trung Quốc vào Nhật Bản.

Một đặc điểm trong tiếng Nhật không thể không đề cập đến, là có rất nhiều từ mượn. Từ mượn của Trung Quốc được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống, số lượng quá nhiều và lại được viết bằng chữ Hán, nên gần như không cảm thấy rằng chúng có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài. Ngày nay chính người Nhật cũng gần như không thể nhận ra những từ mượn nước ngoài đầu tiên (nhiều từ là của tiếng Sanskrit, Ainu hoặc Triều Tiên) vì hầu hết được viết bằng chữ Hán chứ không phải bằng hệ katakana. Nhiều từ du nhập từ lâu trong lịch sử Nhật Bản và thường là những từ liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người Nhật. Nhiều từ được mượn từ tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan từ thế kỷ 16-17.

Cuối thời kỳ Edo (1603-1868), các từ tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga bắt đầu xuất hiện. Hiện nay, so với các từ du nhập vào Nhật Bản sau này, số từ mượn của tiếng Anh nhiều hơn tất cả các thứ tiếng khác, cả các từ khoa học lẫn từ thường dùng trong cuộc sống. Ngoài ra còn có các từ mượn tiếng Đức và tiếng Italia.

Số lượng chữ Hán hiện sử dụng ở Nhật Bản được giới hạn chỉ còn một phần trăm rất nhỏ trong số khoảng 40.000 đến 50.000 chữ Hán mà chúng ta thấy trong các cuốn từ điển đồ sộ. Năm 1946, bộ giáo dục Nhật hạn chế số lượng chữ Hán dùng trong các văn bản chính thức là 1.850 chữ. Năm 1981, số lượng Hán tự thường dụng được quy định là 1.945 chữ.

 

Bài viết liên quan