phải (4)

Lao động xuất cảnh

3bJ8ncmK

Cơ khí

May

May công nghiệp

che bien nam

Nhà máy sản xuất chế biến nấm

Lắp ráp linh kiện điện tử Nhật Bản

Lắp ráp linh kiện điện tử

 

PHẦN I.

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ

NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

- Vị trí địa lý: Nước Lào nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Châu Á, không có biển, bao quanh là lục địa. Có đường biên giới tiếp giáp với Việt Nam ở phía Đông, Campuchia ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Myanma và Trung Quốc ở phía Bắc. 

- Diện tích:  236.800km2,

- Dân số: Khoảng  6.6 triệu người (2010),

- Mật độ dân số: 27 người/km2  

- Ngày Quốc khánh: 02/12/1975,

- Thủ đô: Viêng Chăn (VIENTIANE),

- Quốc kì : Quốc kì của Lào hiện nay có hình chữ nhật, được chia thành 03 dải ngang, gồm một dải màu xanh ở giữa và hai dải màu đỏ ở phía trên và phía dưới. Ở giữa dải xanh có một hình tròn màu trắng.

- Ngôn ngữ chính:  Tiếng Lào

- Ngôn ngữ khác: tiếng Việt, Anh, Pháp.

- Tôn giáo chính:  Phật giáo

- GDP: 7,7%/năm (2010), dự kiến năm 2011 đạt 8,5%

- Thu nhập bình quân đầu người: 960 USD/năm (năm 2010)

- Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt  Nam:  05-9-1962

- Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Việt Nam 18/7/1977

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước:  Đ/c Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn

- Chủ tịch Quốc hội:   Đ/c Pa- ny Ya- tho- tu

- Thủ tướng Chính phủ:   Đ/c Thong- sing Thăm- ma- vông

- Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao:  Đ/c Thoong-lun Si-su-lít

- Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới, có 02 mùa rõ rệt, gồm mùa mưa và mùa khô;  mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. 

- Giao thông: Có giao thông đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không.

- Văn hoá: Chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc, tiêu biểu nhất là văn hoá Phật giáo. Do vậy, trên khắp đất nước Lào, đền chùa được xây dựng rất nhiều, với quy mô lớn và rất đẹp; có những ngôi chùa trở thành di sản văn hoá thế giới.

- Hành chính của Lào: Lào áp dụng một hệ thống hành chính bốn cấp gồm cấp trung ương và ba cấp địa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh; có 17 tỉnh, thành phố và thủ đô Viêng Chăn. Cấp địa phương dưới tỉnh là quậnhuyệnthị xã; cấp địa phương thấp nhất là bản (bản tương đương cấp xã của Việt Nam).

- Tài Nguyên thiên nhiên:  Lào rất giàu có và phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên như:

+ Tài nguyên đất: có 3 loại đất chủ yếu như đất phù sa, đất đỏ và đất vùng núi đồi, rất thuận lợi cho việc phát triển ngành nông – lâm – nghiệp.

+ Tài nguyên rừng: Rừng của Lào chiếm 67% diện tích toàn nước Lào, có nhiều loại gỗ quý hiếm với trữ lượng lớn và có giá trị kinh tế cao. 

+ Tài nguyên khoáng sản: Các mỏ kim loại quý như: mỏ vàng, bạc, sắt, đồng, quặng bô xít, than đá,… đặc biệt, Lào có tiềm năng rất lớn về thuỷ điện.

- Nước Lào có những phong tục và văn hoá rất độc đáo như:

1. Phong tục chào:

Người Lào thường chào nhau bằng một cử chỉ giống như cầu nguyện được gọi là cúi chào (nop). Người trẻ tuổi hơn hoặc ở vị trí thấp hơn luôn cúi chào người lớn tuổi hơn hoặc ở địa vị cao hơn. Tục bắt tay khi gặp nhau của người phương Tây rất phổ biến trong những năm gần đây. Tuy nhiên, một nụ cười kèm theo một cái đầu hơi cúi được cho là lịch sự. Tỏ ra quá sốt sắng, thể hiện tình cảm trước công chúng, các cử chỉ khoa tay múa chân đều được xem là không lịch sự.

Đầu là bộ phận cao nhất của cơ thể, chân là bộ phận thấp nhất về nghĩa đen và nghĩa bóng. Chạm vào đầu một người nào đó hoặc chỉ vào một người hay một vật bằng chân được xem là cực kỳ thô lỗ. Cũng giống như ở các đền thờ, chúng ta cần bỏ giày dép ra trước khi vào nhà.

2. Ẩm thực:

Có đến 90% dân Lào ăn xôi và ta có thể thấy xôi trong bất kỳ bữa ăn nào của người Lào, thức ăn của người Lào thường được bày vào một đĩa lớn, thức ăn kèm với xôi là Lạp, Koy, Ping. Người Lào sống gần gũi với thiên nhiên, cây cỏ nên thích ăn những thức ăn tươi sống lấy từ núi rừng như thịt gà, thú rừng vừa mới săn bắn, cây lá…

Thức ăn phổ biến thứ hai là Lạp. Lạp được làm từ thịt gà, thịt vịt, thịt bò… Có lúc Lạp làm bằng thịt hổ, “Hổ Lạp” thường được ăn sống, nhưng phần lớn các bạn được phục vụ các món ăn nấu chín từ nhà hàng. Thỉnh thoảng bạn được phục vụ những thức ăn nguội với các loại rau sống và nước dừa, các món ăn này được phục vụ trong những bữa tiệc chiêu đãi, đám cưới hay những buổi tiệc quan trọng khác. Người nước ngoài rất thích món ăn này. Một món ăn địa phương được nhiều người ưa thích đó là món Or lam của vùng Luang Prabang. Nhìn chung, thức ăn Lào đơn điệu cả về hình thức lẫn nội dung. Phần lớn khách du lịch đến Lào không quen ăn những thức ăn Lào.

3. Nhà cửa:

Nhà người Lào được xây bằng cột nhà sàn. Có hai loại nhà: nhà kiểu mái đơn và mái đôi. Số lượng bậc thang phụ thuộc vào chiều cao của nhà nhưng thông thường người Lào thường làm số bước lẻ như 3,5,7,9 bước.

4. Lễ buộc chỉ tay:

Mục đích: có nhiều dịp để người ta tổ chức Lễ buộc chỉ tay, mục đích của buổi Lễ buộc chỉ tay là để thắt chặc tình cảm của những người bạn, người thân lâu ngày không gặp nhau và cầu chúc nhau những điều tốt đẹp nhất. Mục đích cụ thể của từng buổi lễ tuỳ thuộc vào mức độ quan hệ của những người tham dự.

4.1. Đối với khách quí từ phương xa đến: Nhằm thể hiện sự tôn trọng, sự thân thiện mến khách của chủ nhà, mong muốn giữ lại những kỉ niệm và cầu chúc nhau cùng tiến bộ, phát triển với những lời chúc tốt nhất.

4.2. Những người trong gia đình (đi công tác xa về, sắp đi công tác hoặc bệnh mới bình phục). Chúc đem lại sự bình an, công tác thành đạt, mau chóng bình phục trở lại công việc, chúc những điều tốt lành cho người thân của mình. Việc sinh nở con trai con gái người ta cũng là lễ buộc chỉ tay ăn mừng.

4.3. Nhân các ngày lễ lớn, mừng họp mặt gia đình hoặc để hoà chung không khí vui của ngày lễ, ngày hội. Những ngày này, người ta cũng chúc nhau những điều tốt đẹp nhất.

- Hình thức tổ chức: Tuỳ mức độ quan hệ, đời sống kinh tế mà hình thức tổ chức buổi lễ buộc chỉ tay cũng khác nhau (tốn kém, trung bình …).

- Cách thức tổ chức:

Chủ nhà chuẩn bị sẵn một cây trang trí, trên có gắn hoa trang trí cho đẹp và các sợi chỉ để sau lấy xuống buộc chỉ tay. Cây trang trí đặt trên một thảm nhỏ, chung quanh đặt nhiều đĩa hoa quả, trái cây, gà và rượu (rượu gạo, rượu nếp).

Bắt đầu lễ, mọi người ngồi quây quần xung quanh cây trang trí, Già làng đọc bài kinh cầu chúc điều tốt lành (các bài đọc này khác nhau tuỳ theo tính chất từng buổi lễ). Đọc khoảng 15 phút, mọi người im lặng lắng nghe, hai tay chắp phía trước, ngồi xếp hai chân một bên hoặc ngồi xếp bằng.

Đọc xong, Già làng lấy chỉ buộc cho khách quý, vừa buộc vừa cầu chúc (nói tiếng Lào), để đáp lễ khách phải làm tương tự (lấy dây chỉ xuống và buộc cổ tay cho Già làng và cầu chúc (tiếng mẹ đẻ).Mọi người xung quanh sẽ làm tương tự, thời gian dự kiến: Từ 30 – 45 phút.

5. Tết cổ truyền Bunpimay của nhân dân Lào :

Người Lào cũng đón năm mới dương lịch như các nước khác trên thế giới, nhưng Tết Lào – Tết Cổ truyền Bunpimay (còn gọi là Pi Mày, Koud Song Kane hay Bunhot Nậm có nghĩa là Hội té nước) là lễ hội truyền thống lớn nhất ở đất nước triệu voi này.

Theo truyền thống, Tết Lào diễn ra trong suốt tháng thứ năm Phật lịch, bắt đầu từ ngày thứ sáu của tháng thứ năm và kết thúc vào ngày thứ năm của tháng thứ sáu, trong đó ngày lễ chính Wun Salong được tổ chức vào dịp trăng tròn. Hiện nay Tết Lào được tổ chức từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 dương lịch hàng năm, khi bầu trời thanh cao, các dòng sông lớn đều dồi dào nước tượng trưng cho một năm mới nhiều lộc.

Tết Bunpimay diễn ra trong ba ngày. Ngày đầu tiên cũng là ngày cuối cùng của năm cũ, người ta lau dọn sạch sẽ trong nhà ngoài ngõ. Ngày thứ hai không được tính đến vì đó là giao thời giữa năm cũ và năm mới. Hội bắt đầu vào ngày cuối cùng với nhiều hoạt động tưng bừng khắp nơi. Ngày cuối cũng là ngày kết thúc tuần trăng. Trong ba ngày này người Lào được nghỉ, không làm việc và cũng không có các hoạt động buôn bán.

Nguồn gốc ngày Tết Bunpimay:

Đầu tiên Tết Lào được tổ chức vào ngày đầu tiên của tháng Một. Tuy nhiên, thời điểm đó vào mùa đông, không thích hợp cho phong tục té nước nên ngày này đã được chuyển sang thời điểm nóng nhất trong năm. Đây cũng là thời gian ngày thường dài hơn đêm, ngày dài nhất có thể đến 14 tiếng 24 phút.

Theo các sử gia Lào, tổ tiên người Lào đến từ phía Nam Trung Quốc và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ nên lấy ngày, tháng, năm theo Ấn Độ.

 Riêng Tết Lào là lấy theo người Mon-Phama và người Khmer.

Người Ấn Độ coi trọng thời điểm ngày dài hơn đêm và gọi đó là Watthanasagn, có nghĩa là “nhiều bóng râm”. Khi đó mặt trời mọc ở phía Bắc và bắt đầu mùa mưa, thuận lợi cho trồng trọt hơn các mùa khác trong năm.

Ngoài ra, Tết Lào còn xuất phát từ một truyền thuyết về cuộc đấu trí giữa Thammabane và Kabinlaphom. Thời xa xưa, từ trước khi Phật giáo ra đời, có một chàng trai con nhà phú nông tên là Thammaphala hay còn gọi là Thammabane rất nhanh trí và hiểu được tiếng chim. Thammabane thường di khắp nơi để truyền dạy kiến thức.

Thời gian đó người dân vẫn coi Kabinlaphom, thần của bầu trời là người thông thái nhất. Khi biết tin dưới trần gian có Thammabane là một người rất hiểu biết, Kabinlaphom muốn thi tài với Thammabane. Ông ta đặt ra ba câu hỏi để Thammabane trả lời, nếu Thammabane trả lời được thì Kabinlaphom sẽ phải dâng đầu mình và ngược lại.

Ba câu hỏi đó là:

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi sáng?

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi chiều?

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi tối?

Thammabane không thể trả lời ngay, nhưng anh xin Kabinlaphom thêm 9 ngày nữa. Thammabane ra sức suy nghĩ nhưng vẫn không tìm được đáp án. Ba ngày trôi qua, đã quá mỏi mệt, anh ngủ gật dưới gốc cọ thì nghe hai vợ chồng đại bàng nói chuyện trên đầu mình. Đại bàng vợ hỏi: “Ngày mai chúng ta sẽ ăn gì đây?”. Đại bàng chồng trả lời: “Đừng lo, chúng ta sẽ ăn thịt Thammabane, vì anh ta sẽ không thể trả lời được 3 câu hỏi của Kabinlaphom và sẽ bị giết”. Khi đại bàng vợ hỏi về câu trả lời, đại bàng chồng đã nói:

-Thần sắc con người vào buổi sáng tập trung ở khuôn mặt, vì vậy buổi sáng con người phải rửa mặt.

-Thần sắc con người vào buổi chiều tập trung ở ngực, vì vậy con người thường tắm vào buổi chiều.

-Thần sắc con người vào buổi tối tập trung ở tay và chân, vì vậy con người thường rửa chân tay trước khi đi ngủ.

Nhờ biết được tiếng chim, Thammabane nghe rõ ba câu trả lời và sau đó trở lại gặp Kabinlaphom. Theo cam kết, Kabinlaphom phải chặt đầu mình. Tuy nhiên, trước khi chặt đầu, Kabinlaphom dặn bảy cô con gái của mình giữ gìn cái đầu cẩn thận, vì nếu đầu ông ta rơi xuống đất sẽ xảy ra hỏa hoạn, ném lên trời sẽ gây ra hạn hán, còn ném xuống biển thì biển sẽ khô cạn. Bảy con gái của Kabinlaphom đặt đầu cha trên một cái đĩa vàng và thờ ở động Khanthoumali, núi Phoukhaokailat. Hàng năm, các cô lần lượt đến đây rửa sạch đầu cha và đặt trở lại vào động.

- Tên của bảy cô con gái Kabinlaphom là Thoungsatheve, Khorakham, Rarksa, Mountha, Kirinee, Kinitha và Manothone. Tất cả bảy cô được gọi chung là Nang Sangkhane.

6. Các phong tục trong Tết Bunpimay:

6.1. Té nước:

Vào ngày đầu tiên của Tết Lào, người ta quét dọn, lau chùi nhà cửa sạch sẽ, chuẩn bị nước thơm và hoa. Nước thơm là một hỗn hợp gồm nước, nghệ, bồ kết nướng, hoa và dầu thơm. Nước được ướp hương hoa hoặc hương liệu thiên nhiên. Về sau người ta còn cho cả kem và bột.

Vào buổi chiều, người dân trong làng tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo. Sau đó, người ta rước tượng Phật ra một gian riêng trong ba ngày và mở cửa để mọi người có thể vào tắm Phật. Nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại đem về nhà để té nuớc thơm ấy vào người làm phước. Người ta còn té nước vào các nhà sư, chùa và cây cối xung quanh chùa.

Để tỏ lòng tôn kính người trẻ tuổi té nước những người lớn tuổi để chúc sống lâu và thịnh vượng. Bạn bè té nước vào nhau. Họ không chỉ té nước vào người mà còn vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật và công cụ sản xuất.

Người Lào tin rằng nước sẽ giúp gột rửa điều xấu xa, bệnh tật và cầu chúc năm mới sống lâu, sạch sẽ và mạnh khỏe. Ai bị ướt nhiều là hạnh phúc nhiều.

Tục lệ té nước (tạt nước) trong ngày tết của Lào cũng có phần do thời tiết nóng bức (tháng 4 là thời điểm nóng nhất ở Lào). Trước khi té nước cho nhau, người ta thường dành cho nhau những lời chúc tốt lành. 

6.2.Xây tháp cát:

Cát được đưa đến sân chùa và trang trí trước khi dâng cho các nhà sư để tỏ lòng thành kính. Có hai cách để làm tháp bằng cát. Người ta có thể làm ngay tại bãi biển hoặc dâng cát cho chùa. Tháp cát được trang trí bằng cờ, hoa, dây vải trắng và vẩy nước thơm. Các tháp cát này tượng trưng cho núi Phoukaokailat nơi bảy con gái của Kabinlaphom thờ đầu cha mình và được dâng cúng để cầu sức khỏe, hạnh phúc trong năm mới.

6.3. Phóng sinh:

Các loài động vật như rùa, cá, cua, chim, lươn và các con vật nhỏ khác được phóng sinh. Người ta tin rằng trong dịp Tết ngay cả động vật cũng cần được tự do. Một số người phóng sinh động vật với số lượng trùng với tuổi của con vật.

6.4. Hái hoa tươi:

Vào các buổi chiều, sư trụ trì hướng dẫn các nhà sư, ni cô và dân làng đi hái hoa tươi đem về chùa cúng Phật. Trong khi đi hái hoa người ta chơi trống và các nhạc cụ cổ truyền. Những người khác thì đem nước đến lau rửa hoa.

6.5. Ăn món Lạp:

Trong ngày Tết, người Lào rất chú trọng tới việc ăn món Lạp, đặc biệt là các doanh nhân. Theo ngôn ngữ của nước này, lạp có nghĩa lộc. Lạp ở đây thường được làm bằng thịt gà hay thịt bò tươi sau đó đem trộn với gia vị. Đặc biệt, món này mà không có thính thì sẽ làm giảm hương vị độc đáo của chúng. Trong mỗi gia đình, đặc biệt là những người làm nghề kinh doanh, món lạp thường được các đầu bếp làm rất công phu, vì nếu món này trong ngày Tết mà không ngon thì họ thường ví năm mới làm ăn có nhiều điềm xui. Lạp thường được ăn với xôi nóng.

Theo nhiều chuyên gia văn hóa Lào, thì lạp được xem như là linh hồn của người Lào trong năm mới. Người ta có thể đem chúc nhau bằng món lạp. Gia đình nào nhận được nhiều món này thì hy vọng năm mới sẽ có nhiều lộc.

7. Các phong tục khác:

Vào những ngày này mọi người thường biếu vải, biếu khăn cho người già. Hội đua thuyền được tổ chức trên sông.

Ở các địa phương đều có đám rước, nhưng nổi tiếng nhất là đám rước Nangsangkhane ở cố đô Luang Prabang, với bảy cô gái đóng vai bảy người con của Kabinlaphom.

Ban ngày người ta đến đền chùa cầu nguyện. Vào buổi tối, mọi người tập trung ở chùa để vui chơi, biểu diễn âm nhạc truyền thống (morlam) và múa ramwong.

Nếu làng nào đặt tượng Phật trong hang núi thì lễ tắm Phật gọi là Song Namphaphou. Các nhà sư và dân làng ăn trưa ngay tại núi sau khi làm lễ.

PHẦN II.

THÔNG TIN VỀ THỊ THỰC

Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định miễn thị thực cho HCNG, HCCV ngày 17/7/1977; Công hàm trao đổi năm 1993; Hiệp định miễn thị thực cho HCPT ký ngày 05/03/2004, có hiệu lực từ ngày 01/07/2004; Thoả thuận về việc tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương tiện, hàng hoá qua lại biên giới nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc khuyến khích phát triển hợp tác đầu tư, thương mại giữa hai nước ký ngày 14/9/2007 ( Thoả thuận Hà Nội năm 2007). Cụ thể:

- Miễn thị thực cho người mang HCNG, HCCV, không quy định rõ thời gian tạm trú.

- Miễn thị thực cho người mang HCPT đi việc công (có tem AB của Việt Nam hoặc ký hiệu SERVICE của Lào), cụ thể:

- Miễn thị thực cho người mang HCPT đi việc công (thuộc mọi thành phần kinh tế và các tổ chức có tư cách pháp nhân) thực hiện các hợp đồng thương mại, lao động, đầu tư và các dự án hợp tác. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh, chủ dự án hoặc người sử dụng lao động phải làm đầy đủ các thủ tục đăng ký cư trú cho người lao động theo qui định hiện hành của mỗi nước.

- Công dân hai nước có Thẻ lao động và Thẻ tạm trú được miễn thị thực khi xuất cảnh, nhập cảnh trong thời hạn của Thẻ tạm trú. Giấy phép lao động và Thẻ tạm trú được cấp theo thời hạn của các hợp đồng thương mại, lao động, đầu tư, các dự án hợp tác và được gia hạn với thời hạn tối đa 12 tháng một lần.

- Miễn thị thực cho người mang HCPT đi việc công là học sinh, sinh viên, thực tập sinh theo chương trình hợp tác giữa hai Chính phủ hoặc giữa các tổ chức quốc doanh hai nước. Thời hạn cư trú được cấp phù hợp với thời hạn của chương trình hợp tác.

- Miễn thị thực cho người mang HCPT còn giá trị sử dụng ít nhất 6 tháng với thời gian tạm trú không quá 30 ngày. Người có nhu cầu nhập cảnh trên 30 ngày phải xin thị thực trước; thời gian tạm trú có thể được gia hạn tối đa 2 lần, mỗi lần 30 ngày. Lệ phí cấp hoặc gia hạn thị thực thống nhất hai Bên là 20USD/thị thực, thu bằng tiền VND và (Kíp) LAK hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi (theo tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Lào công bố tại thời điểm thu).

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI ĐẾN NƯỚC BẠN LÀO

1. Khi đến thăm đất nước Lào, khi chào hỏi cần tránh việc bắt tay phụ nữ Lào mà thường chào nhau bằng một cử chỉ giống như cầu nguyện được gọi là cúi chào (nop) và kèm theo một nụ cười với cử chỉ hơi cúi đầu được cho là lịch sự.

2. Khi người Lào tổ chức Lễ buột chỉ tay cho bạn thì bạn hãy vui vẻ và rất hạnh phúc về điều này; vì mục đích của buổi Lễ buộc chỉ tay là nhằm thể hiện sự tôn trọng, sự thân thiện mến khách của chủ nhà, mong muốn giữ lại những kỉ niệm và cầu chúc nhau cùng tiến bộ, phát triển với những lời chúc tốt nhất. Bạn cũng nên cầm chỉ buộc cho những người bạn yêu quí. Người Lào quan niệm, càng nhiều chỉ buột trong buổi lễ thì càng có nhiều người quý mến và đem lại nhiều may mắn.

3. Khi bạn đến nước Lào, bạn được các bạn Lào chiêu đãi món Lạp – một món ăn rất đặc biệt của người Lào; bạn hãy tỏ ra vui mừng vì được thưởng thức món ăn này và hãy luôn khen ngon và cảm ơn vì món ăn rất đặc biệt. Bởi theo ngôn ngữ của Lào, lạp có nghĩa là lộc. Theo nhiều chuyên gia văn hóa Lào, thì lạp được xem như là linh hồn của người Lào trong năm mới. Người ta có thể đem chúc nhau bằng món lạp. Gia đình nào nhận được nhiều món này thì hy vọng năm mới sẽ có nhiều lộc.

4. Người Lào rất hiền lành và mến khách, không có chuyện tranh cãi nhau hay có lời qua tiếng lại; khi tham gia giao thông ở Lào, bạn cần hạn chế tối đa việc bóp còi xe inh ỏi và phóng nhanh, vượt ẩu hay giành đường; vì ý thức tham gia giao thông người Lào rất tốt; họ luôn nhường đường cho nhau khi tham gia giao thông. Điểm đặc biệt ở hệ thống giao thông Lào là chỉ cho phép đèn xanh ở 1 hướng, hướng đối diện vẫn là đèn đỏ. Vì vậy, đừng thấy phía đối diện chạy thì cũng chạy theo là bị phạt đấy! Đèn bộ hành cũng như  đèn xe: chỉ cho 1 hướng đi mà thôi!

          5. Trong các tiệc chiêu đãi của người Lào, họ ăn uống rất nhiệt tình và mong muốn những vị khách quý cũng như họ; vì càng nhiệt tình thì họ cho rằng mình rất yêu mến và quý họ; nhưng người Lào không bao giờ có chuyện ép nhau trong việc uống rượu, bia; mà tuỳ lòng của khách.

          7. Khi đến nước Lào bạn cần chú ý các trạm thu phí đường bộ của Lào, tuy rất đơn giản, bạn có thể chạy băng qua một cách dễ dàng vì không có barie chắn. Bạn cần dừng lại và chờ nhân viên ra thu phí và giao vé rồi bạn hãy tiếp tục hành trình của mình.

          8. Điều cần lưu ý hiện nay khi bạn đến thăm nước Lào, bạn không được dùng từ "bộ tộc" hoặc dùng "Lào lùm, Lào thởng hay Lào xủng" như trước nữa. Vì nói như vậy là xem như không tôn trọng họ và có ý phân biệt chủng tộc, chỉ dùng “Nhân dân Lào” là đủ.

NHỮNG CHỈ DẪN CẦN THIẾT

1. Tiền: Lào sử dụng Kíp (LAK), 1.000 Kíp Lào = 2.700 VNĐ (vào tháng 05/2011), có thể đổi tiền Kíp tại cửa khẩu hoặc tại các chợ.

2. Sim điện thoại: Có thể mua tại cửa khẩu, nên mua loại sim Uitel (40.000kip/cái), giá cước rẻ, sóng mạnh và phủ rộng khắp (Unitel là do Tập đoàn Viettel của Bộ Quốc phòng Việt Nam đầu tư tại Lào)

3. Giá một số mặt hàng ở Lào:

- Phở:          10.000 kíp – 15.000 kíp/tô

- Bún:          10.000 kíp – 15.000 kíp/tô

- Xôi:            6000 kíp/típ

- Cà phê:      7000 kíp/ly

- Bia:           10.000 kíp/lon, 9000 kíp/chai

4. Hướng dẫn cách gọi điện thoại:

-      Gọi nội bộ trong nước Lào: gọi trực tiếp các số

-      Gọi từ Lào về Việt Nam: 0084 – Mã tỉnh (bỏ số 0 đầu tiên) – số máy cần gọi (nếu là di động bỏ số 0 đầu tiên)

-      Gọi từ Việt Nam qua Lào: 00856 – 020 – số máy di động cần gọi

 

Địa chỉ liên lạc của các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại Lào:

1. Đại sứ quán Việt Nam tại Viêng Chăn:

+Địa chỉ: Số 85, đường 23 Sinha, Bản Phonsay, Quận Saysetha

+Điện thoại : ………………………………………….+856-21-813409

+Fax : ……………………………………………………+856-21-413379

+Lãnh sự : ……….. ………………………………….413400

+E-mail: dsqvn@laotel.com

2. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Pắc-xế:

+Địa chỉ: 31, Bản Phà Bạt, thị xã Pắc-xế, tỉnh Chămpasak

+Điện thoại : ………………………………………….+856-031-212827

+Fax : ……………………………………………………+856-031-214140/856-031-212058

+E-mail: vnemb.lao@mofa.gov.vn

3. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Savanakhet

+Địa chỉ: 118 đường Si sa vong, huyện Cay son phom vi han, tỉnh Savanakhet

+Điện thoại : ………………………………………….+856-41-212418

+Fax : ……………………………………………………+856-41-212418

+E-mail: tlsxavan@laotel.com

3. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Luông-pha-bang

+Địa chỉ: số 427-428, bản That Bosot, tỉnh Luông-pha-bang

+Điện thoại : ………………………………………….+856-071-254847

+Fax : ……………………………………………………+856-071-4746

+E-mail: tlsqlpb@yahoo.com

PHẦN III.

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỈNH CÓ QUAN HỆ KẾT NGHĨA

VỚI TỈNH QUẢNG NAM - TỈNH SÊ KÔNG

Sê Kông là tỉnh thuộc miền Nam của Lào, được tách ra từ tỉnh Salavan từ năm 1984, là tỉnh miền núi, với 95% dân số là người dân tộc sinh sống bằng nghề nương rẫy và săn bắt thú rừng là chính, giao thông chưa phát triển, kinh tế-xã hội phát triển chậm do còn dựa vào thiên nhiên là chính và còn mang nặng tính tự cung, tự cấp…

Diện tích: 7.665km2

Đường biên giới giáp với Việt Nam: 280km (Thừa Thiên Huế: 68km, Quảng Nam 142km và Kon Tum: 70km), diện tích đồi núi chiếm 65% , diện tích đồng bằng chiếm 5% diện tích của tỉnh.

- Đơn vị hành chính: Gồm 04 huyện: Đắk Chưng, Kà Lùm và Lạ Màm, Thà Teng;  trung tâm tỉnh lỵ là huyện Lạ Màm.

- Dân số (2010): 102.000 người.

- GDP (2010): 11,5%

- Thu nhập bình quân đầu người: 520 USD/người (2010),

- Các điểm tham quan du lịch: Thác Phêc, Thác Hủa khôn …

Tỉnh Sê Kông có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển kinh tế với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như: tài nguyên rừng, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản (mỏ sắt,  than đá, vàng, boxit…).

Hiện nay, Sê Kông là một trong các địa phương thu hút được nhiều dự án đầu tư của Lào. Nhờ có hệ thống sông ngòi rộng khắp và rất thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thuỷ, phát triển ngư nghiệp, xây dựng các nhà máy thuỷ điện (như: Xê Ka Mán 3 và Xê Ka Mán 4, Sê Kông 4 và Sê Kông 5, Đắc Y Mơn, Lụi Lăm phăn…).

Đặc biệt, Sê Kông có tuyến quốc lộ 16B nếu được đầu tư nâng cấp  (đoạn Sê Kông đến cửa khẩu Đắc Tà Oọc giáp với cửa khẩu Nam Giang tỉnh Quảng Nam dài khoảng 110km) sẽ trở thành tuyến đường ngắn nhất và thuận lợi nhất của Tuyến Hành Lang kinh tế Đông – Tây nối từ Myanma – Đông bắc Thái Lan – Các tỉnh miền Nam của Lào – Bắc Campuchia với các cảng biển Đà Nẵng – Kỳ Hà – Dung Quất thuộc các tỉnh miền Trung Việt Nam.

TỈNH CHĂM PA SẮC

Tỉnh Chăm sắc có 10 huyện và 01 thị xã:  thị xã Pắc sế, huyện Pắc soong, huyện Pa – chiêng Chá – lơn – xúc, huyện Sa – nạ Xổm – bùn, huyện Phôn – thong, huyện Pạ – thum Phon, huyện Chăm – pa – sắc, huyện Xu khụ – ma, huyện Mụn và huyện Khổng.

Tỉnh Chăm pa sắc là một tỉnh trọng điểm của miền Nam nước Lào, đây là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ của Lào, địa phương này nổi tiếng với những sản phẩm nông nghiệp như: cà phê, trà, song mây, rau, hoa quả và một số sản phẩm nông nghiệp khác. Hiện nay tỉnh đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn, tỉnh đã có quy hoạch phát triển ngành công nghiệp của tỉnh đến năm 2020. Hiện nay, tỉnh đang hình thành một số đặc khu kinh tế, cụ thể là đang kêu gọi đầu tư vào đặc khu kinh tế Khon phạ pheng nằm ở phía Nam của thị xã Pắc sế. Tỉnh Chăm pa sắc đang phấn đấu xây dựng tỉnh thành trung tâm mạnh về kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục của miền Nam Lào và là động lực để thúc đẩy phát triển các tỉnh miền Nam của Lào; quan trọng hơn, tỉnh Chăm pa sắc đã có kế hoạch để tranh thủ cơ hội khi trong tương lai tỉnh Chăm pa sắc sẽ là trung tâm trung chuyển của tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây thứ 2 từ Băng cốc, Thái Lan đi qua Chăm pa sắc và đến Cửa khẩu Nam Giang của Quảng Nam và về Cảng quốc tế Đà Nẵng, đây là cơ hội và lợi thế lớn để Chăm pa sắc đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. 

Ngành du lịch- dịch vụ tỉnh Chăm pa sắc phát triển nhanh và mạnh trong những năm gần đây, là một tỉnh có nhiều công trình kiến trúc nỗi tiếng; trong đó công trình văn hóa tiêu biểu nhất của Chăm pa sắc là ngôi đền thiêng Wat Phou – Di sản văn hóa thế giới, nằm cách thị xã Pắc sế về phía Nam gần 40km, theo dọc bờ sông Mê Công. Wat Phu được xây dựng từ thế kỷ thứ 9 đến 13 được xem là một trong những đền thiêng liêng nhất của các vương triều xưa trên vùng đất này. Wat Phu còn được gọi là Chùa Núi, nằm dưới chân của một núi thiêng gọi là Phu Kao (Núi Voi). Theo các nhà sử học, Wat Phou là đền thờ xưa nhất ở Lào, từng là trung tâm của đạo Hinđu, thờ thần Shiva. Đến thế kỷ 13, Wat Phu trở thành đền thờ Phật và tồn tại cho đến ngày nay, trở thành một trong những nơi lưu giữ các giá trị về lịch sử và văn hóa Lào. Chăm pa sắc sở hữu “một viên ngọc quý” nữa là thác Khone Phapheng – thác lớn nhất Đông Nam Á, nối hai bờ của sông Mê Kông với 2 tỉnh Chăm Pa sắc và Stưng Teng của Campuchia

Tỉnh Chăm pa sắc còn có Xì phăn đon. Trong tiếng Lào, Xì phăn đon có nghĩ là “bốn ngàn hòn đảo”. Và đúng như tên gọi của nó, vùng đất nằm dọc sông Mê Kông này có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ mà trong đó được du khách biết đến nhiều nhất có lẽ là hai đảo Đon Khone và Đon Deth. Ở Chăm pa sắc có nhiều lễ hội lớn diễn ra quanh năm như: Lễ hội buôn Wat Phou tháng 2, Lễ hội buôn Pha Veat tháng 3, Lễ hội đón năm mới tháng 4, Lễ hội buôn Bang Phai tháng 5, Lễ hội buôn Khao Phan Sa tháng 6, Lễ đua thuyền tháng 10…

Trung tâm tỉnh lỵ Pắc sế có rất nhiều nhà hàng và khách sạn với giá cả hợp lý; như nhà hàng Hua Phae Khom Pong – một nhà hàng nổi nằm trên sông Mê kông; khách sạn Chăm pa sắc Palace là khách sạn lớn và nổi tiếng với 1000 cửa sổ và có sân bay trực thăng trên sân thượng khách sạn.

- Dân số: hơn 650.000 người

- GDP (2010): 12,3%

- Thu nhập bình quân đầu người: 1.230 USD (2010)

 

 

 

Bài viết liên quan