phải (4)

Lao động xuất cảnh

3bJ8ncmK

Cơ khí

May

May công nghiệp

che bien nam

Nhà máy sản xuất chế biến nấm

Lắp ráp linh kiện điện tử Nhật Bản

Lắp ráp linh kiện điện tử

 

VĂN HÓA – ĐẤT NƯỚC

8 lưu ý cần biết khi phỏng vấn đi xuất khẩu lao động Nhật Bản

price 1. Chú ý đến trang phục, thái độ, tác phong
 
Hôm đi phỏng vấn thì tốt nhất là bạn mặc áo trắng, quần tối màu sơ vin gọn gàng. Không nên nhuộm tóc hoặc để tóc quá dài đối với nam và nên búi tóc gọn gàng đối với nữ. Không nên đeo quá nhiều các loại đồ trang sức lòe loẹt và trang điểm quá đậm.
 
Về cách đi đứng, giao tiếp thì thông thường bạn sẽ được hướng dẫn cơ bản trước khi phỏng vấn, tuy nhiên bạn nên lưu ý những đặc điểm sau: nghiêm túc, gọn gàng, lễ phép, có tinh thần tập thể. 
 
discount viagra 2. Giới thiệu bản thân đơn giản?
 
Không quá dài dòng vào việc giới thiệu bản thân, đồng thời hãy cố gắng phát âm tốt nhất có thể và thể hiện mình là người thân thiện, luôn tươi cười đồng thời hãy nhìn thẳng vào mắt của họ khi giới thiệu và trả lời.
 
Cần trả lời rành mạch, dứt khoát, đừng tốn nhiều thời gian vào việc giải thích. Hãy thể hiện mình là con người luôn cẩn thận trong công việc, đồng thời biết tiếp thu và lắng nghe. Đây là những đức tính được các xếp Nhật đánh giá rất cao. Không nên lúng túng sợ sệt mất tự tin.
 
http://viagragenericfor.accountant generic viagra 100mg 3. Kinh nghiệm làm việc của bạn
 
Đừng lo lắng, bởi đây chính là thời cơ của bạn để thể hiện sự chăm chỉ, cố gắng nỗ lực, vươn lên trong cuộc việc của bạn. Nên tránh những câu trả lời về công việc cũ như nhàm chán, nhiều áp lực, vất vả…
 
Người Nhật họ luôn đánh giá cao sự trung thành và nỗ lực cố gắng hết mình trong công việc. Ở Công ty Nhật, nhân viên thường gắn bó cả đời với một công ty.
 
4. Điểm mạnh của bạn là gì?
 
Khi được hỏi về vấn đề này, hãy thoải mái nói hết những khả năng của bạn, đồng thời nên tập chung chuyên sâu vào vấ đề đó, không nên miên man, kể nhiều về những vấn đề mà bạn chưa nắm rõ. 
 
cialis 20 mg y alcohol 5. Nhược điểm của bạn là gì?
 
Hãy tập chung nói vào nhược điểm mà không ảnh hưởng tới công việc mà mình đang ứng tuyển ví dụ như bạn thi tuyển làm giàn giáo xây dựng mà lại nói sợ độ cao thì chắc chắn sẽ bị loại. Hãy suy nghĩ và trả lời những nhược điểm mà nếu có mắc phải thì cũng không làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, tuy nhiên hãy nhớ là  đừng trả lời những gì mà khiến cho người Nhật đánh giá bạn là thiếu cẩn thận nhé.
 
6. Tại sao bạn lại đi Nhật bản?
 
Nhiều bạn quá thật thà trả lời ngay rằng vì thu nhập tốt (thực ra mục đích đi làm thì ai cũng như vậy thôi) tuy nhiên việc trả lời quá thẳng thắn như vậy bạn có thể bị mất điểm đấy. Bạn cũng không nên trả lời những câu kiểu chung chung, không rõ quan điểm như "nghe nói ….. nên tôi muốn đi Nhật" cũng không tốt. Theo kinh nghiệm của Japan.net.vn thì các bạn nên trả lời những câu với nội dụng như "Để học hỏi kinh nghiệm…", "Để làm thêm kinh tế phụ giúp gia đình", " để học tiếng Nhật, yêu nước Nhật…"
 
7. Bạn có chịu được vất vả hay không?
 
Dĩ nhiên đi xuất khẩu lao động là để làm việc chứ không phải đi chơi, đi du lịch. Do đó hãy xác định tâm lý phải chịu thương, chịu khó cũng như biết chịu khổ. Hãy trả lời câu hỏi này của người Nhật bằng những câu thể hiện sự khôn ngoan của bạn như "Việc gì người Nhật bản làm được, tôi cũng có thể cố gắng làm tốt", "Tôi sẽ cố gắng nỗ lực hết mình vì công việc, vì công ty"…
 
8. Khi được hỏi "bạn có muốn nói gì thêm không"
 
Rất nhiều bạn khi nghe đến câu hỏi này thường lúng túng, mất tự tin không biết trả lời ra sao. Lúc này bạn có thể trả lời là cảm ơn hoặc tôi không có điều gì muốn nói tuy nhiên tốt nhất thì nói một chút về công việc sắp tới, điều này thể hiện bạn là người biết quan tâm đến công việc. Cuối cùng hãy chú ý nói lời cảm ơn đến nhà tuyển dụng, và có thể thì nói "tôi mong muốn được làm việc cho quý công ty, xin cảm ơn và hãy giúp đỡ tôi". 
 
Nếu bạn có thể nói ngắn gọn bằng tiếng Nhật thì quá tốt, còn không thì sẽ có phiên dịch viên hỗ trợ các bạn. Chúc các bạn thành công và nhanh chóng trúng tuyển đơn hàng XKLĐ Nhật Bản.

 

 

Kinh nghiệm khi sinh sống và làm việc tại Nhật Bản

Để có thể nhanh chóng hòa nhập với môi trường sống và con người Nhật Bản khi đi xuất khẩu lao động ngoài vốn liếng ngôn ngữ bạn cũng cần trang bị cho mình những kiến thức về văn hóa của con người nơi đây.
 

Người Nhật rất quý trọng thời gian, hãy đến sớm 5 phút trước mỗi buổi hẹn
 
Nếu bạn có dịp gặp gỡ và nói chuyện với người Nhật thì sẽ thường thấy họ cúi mình và nói YOROSHIKU ONEGAI SHIMASU, câu nói này không chỉ dùng khi giới thiệu bản thân mà còn dùng ngay cả khi nhờ ai đó giúp đỡ.
 
Một điều nữa là người Nhật họ rất coi trọng chữ "Hòa" trong các mối quan hệ, họ không muốn mối quan hệ bị rạn nứt do từ chối thẳng thừng quá do vậy trong công việc, người Nhật cũng dùng nhiều cách nói vòng, nói tránh, có một câu điển hình mà họ hay dùng để từ chối một yêu cầu nào đó của khách hàng là KENTO SHITEMIMASU
 
viagra advertisement woman Ý thức của người Nhật về thời gian
 
Theo thống kê một năm tàu điện tại Nhật chỉ trễ khoảng 7s, qua đó chúng ta có thể thấy được người Nhật họ coi trọng thời gian như thế nào, hầu hết người Nhật rất thích làm việc đúng giờ giấc.
 
Người Nhật coi việc đến trước giờ hẹn là một trong những quy tắc giao tiếp. Đặc biệt là khi hẹn làm việc đến muộn rất dễ bị mất lòng tin nên khi thấy có thể bị muộn thì hãy gọi điện thông báo vì chỉ muộn 5 phút là rất nhiều người Nhật đã sốt ruột rồi.
 
Giờ giấc làm việc ở công ty
 
Một ngày làm việc tại các công ty Nhật Bản sẽ bắt đầu từ 9h sáng, kết thúc lúc 5 giờ chiều, nhưng gần đây nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu áp dụng chế độ làm việc linh hoạt cho phép nhân viên có thể có thể tự điều chỉnh giờ làm việc của mình. Nhiều người thích chế độ làm việc như vậy bởi họ có thể tránh được giờ cao điểm và có thể làm việc phù hợp với nhịp sinh hoạt hàng ngày.
 
Tuy nhiên, thực tế rất nhiều người mặc dù đã hoàn thành xong phần công việc của mình tuy nhiên thấy đồng nghiệp và cấp trên đang làm việc ngoài giờ, lúc này người Nhật sẽ dùng một câu để biểu lộ sự quan tâm đến đồng nghiệp, đó là OSAKI NI SHITSUREI SHIMASU nghĩa là “Tôi xin phép về trước”.
 
Hãy nói “Tôi xin phép về trước” để thể hiện sự quan tâm tới đồng nghiệp.
 
Trên đây là một vài điều cơ bản về tác phong làm việc cũng như lối ứng xử trong giao tiếp của người Nhật Japan.net.vn chia sẻ tới các bạn, hi vọng những thông tin này sẽ giúp ích ít nhiều cho các bạn khi sinh sống và làm việc tại Nhật Bản.

 

Những điều chúng ta đáng học hỏi từ xã hội Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia có những hệ thống luật pháp cực kỳ nghiêm khắc, tỷ lệ tội phạm thấp nhất thế giới nhưng có lẽ cái chính vẫn là con người, người Nhật có tính tực giác cao, có tính nhường nhịn, kiên nhẫn và đặc biệt là có đạo đức.
 
Tôi cảm thấy mình thực sự may mắn, khi được học tập và làm việc tại Nhật đã được gần 2 năm, trải qua quãng thời gian ấy, tôi vẫn chưa khỏi hết bỡ ngỡ với bao điều mới lạ học tập được ở đất nước này. 
 
Khi đang ôm mộng du học Nhật Bản tôi chỉ biết rằng, đây là một quốc gia hiện đại và đáng để chúng ta học tập, nhưng đến đây tôi thực sự đã nhận ra rằng họ có một xã hội ngăn nắp, trật tự, dù là trong tình trạng động đất hiểm nghèo, người dân vẫn trật tự xếp hàng để đi theo lối thoát hiểm từ các căn nhà cao tầng, tuyệt không có cảnh chen lấn dù ai mặt cũng tái mét vì sợ.
Những tuyến đường luôn sạch sẽ, rác thải được phân loại và người dân tự giác chấp hành, không làm ồn ào nơi công cộng để ảnh hưởng đến người khác.
 
Sau 2 năm ở Nhật, tôi mới chỉ nghe được tiếng còi ô tô có 3 lần, tôi nhớ rõ bởi vì cảm thấy rất lạ, ở một thành phố hiện đại, náo nhiệt nhất thế giới mà không hề nghe thấy tiếng còi khi xe lưu thông trên đường. Lý do đơn giản của hiện tượng này chính là ý thức người dân, mọi người đều tuyệt đối chấp hành luật giao thông và nhường nhau khi giao thông, không có cảnh giành đường hay lấn tuyến.
 
Điều mà tôi thích nhất khi ở Nhật Bản chính là tất cả các siêu thị, nhà hàng, quán ăn hầu hết các mặt hàng đều được niêm yết giá và được bán đúng giá quy định. Cái này tôi nghĩ Việt Nam nên học và áp dụng điều này một cách triệt để nhằm tránh tình trạng chặt chém như hiện nay. 
 

 

Các mặt hàng trong siêu thị Nhật Bản đều được niêm yết giá

 
Vừa rồi, có một bạn sinh viên hỏi tôi rằng: thời gian qua chất lượng giáo dục đại học và đạo đức của giới trẻ Việt xuống cấp rất nhiều vậy nguyên nhân do đâu? 
Đây là một câu hỏi mà rất nhiều người đã biết rõ câu trả lời, đó chính là do sự mất cân đối trong việc dạy dỗ tri thức và nhân cách không chỉ trong bậc đại học mà là từ bậc mầm non. 
Ví như ở Nhật Bản, mặc dù luật pháp rất nghiêm khắc nhưng cái chính là con người Nhật có tính tự giác rất cao, có tính nhường nhịn, kiên nhẫn và đặc biệt là có đạo đức. Họ không bon chen, cướp bóc, giành giật luôn có cảm giác bình yên khi ra đường. 
Tôi có đọc đâu đó được một câu nói và cảm thấy vô cùng tâm đắc đó là: Một hạt giống tốt, gieo trên một mảnh đất cằn nhưng biết chăm sóc đúng cách đã cho những quả ngọt với chất lượng cao. 
Còn chúng ta thì sao? Cũng là một hạt giống tốt, được trồng trên một mảnh đất màu mỡ nhưng chăm sóc không đúng cách, thúc cho cây chóng ra hoa đậu quả, tất nhiên sẽ có quả, nhưng phần lớn là những quả chín ép, bên ngoài nhìn đẹp lồng lộng nhưng bên trong thì đắng chát, thậm chí thối rữa.
 
Vậy nên nếu muốn có một xã hội phát triển, có một đất nước phồn vinh, thì việc làm cần thiết trước mắt chính là xây dựng chương trình giáo dục đạo đức cho các bậc học từ mầm non đến trung học? Nên thay các bài giáo dục công dân toàn là định hướng chính trị bằng các bài học dạy làm người với những ví dụ cụ thể hay sao? Hi vọng vậy…

 

Làm thế nào để thích nghi với mùa hè ở Nhật Bản

Các bạn du học sinh, lao động khi lần đầu sang Nhật sinh sống và làm việc hiển nhiên sẽ mất một khoảng thời gian để thích nghi với thời tiết, khí hậu cũng như cuộc sống ở Nhật Bản.
Một trong những điều chú ý mà các bạn phải nhanh chóng làm quen sớm nhất đó chính là khí hậu Nhật Bản. Thời điểm này hiện đang là mùa hè ở Nhật Bản, mùa hè ở Nhật không có nhiệt độ cao và khắc nghiệt như Việt Nam nhưng vẫn khó chịu bởi không khí nóng ẩm, những cơn mưa dai dẳng, nguy cơ từ nhiều loại côn trùng.

 
mùa hè ở Nhật Bản

1. Mùa mưa tháng 6.

Mùa mưa ở Nhật rơi vào khoảng tháng 6 sáng đến giữa tháng 7. Có thể là những cơn mưa rào kéo đến bất chợt hoặc là mưa dầm dề vài ngày trời. Mùa mưa ở Nhật có khung cảnh khá lãng mạn và phù hợp để đi tắm onsen nhưng cũng đem lại khá nhiều phiền phức. Bạn nên chuẩn bị một số cách đối phó vơi mùa mưa.
 

mùa mưa ở Nhật Bản

a. Luôn mang theo ô hoặc áo mưa.
b. Mặc các loại quần áo có chất liệu nhanh khô. (bạn có thể thoải mái chọn tại các cửa hàng Uniqlo)
c. Mang theo giấy lau để lau khô ghế ngồi chờ xe buýt hay yên xe đạp, xe máy.
d. Mang theo quạt cầm tay chạy pin (携帯ミストファン) để nhanh làm khô quần áo.
 
2. Khí hậu nóng ẩm và nắng nóng

Khí hậu nóng ẩm (shikke) vào tháng 7 và tháng 8 ở Nhật tạo cảm giác rất khó chịu và không tốt cho da tiếp xúc nhiều với ánh nắng. Một số cách để đối phó với khí hậu nóng ẩm:

a. Uống nhiều nước, trà xanh, nước khoáng để giữ nước. Do khí hậu nóng ẩm nên mồ hôi chảy nhiều và mau mất nước hơn. Mugi-cha ở Nhật đặc biết tốt.
b. Sử dụng kem chống nắng khi đi biển nếu bạn không muốn bị cháy da.
c. Ăn các món ăn mát và nhiều rau quả.
d. Làm lạnh chai nhựa trong ngăn đá tủ lạnh rồi đặt quanh phòng để hút ẩm. Lưu ý lúc làm lạnh cẩn thận chai có thể bị vỡ khi co lại quá mức.
e. Giấy báo in ở Nhật có tác dụng hút ẩm rất tốt.
f. Dùng than củi: than củi có rất nhiều lỗ nhỏ giúp hút ẩm và cũng được dùng để khử mùi hôi. Than củi thường được bán ở các Home Center. Nên để vào giỏ để tránh bẩn nhà.
 
3. Côn trùng và rết

Mùa hè ở Nhật có rất nhiều loại côn trùng nguy hiểm và rết. Khi ra đường vào buổi tối cũng có nhiều loại bọ có thể cắn bạn. Bẹn nên chuẩn bị:
 

thích nghi với mùa hè ở Nhật Bản

a. Mua thuốc xịt côn trùng  (防虫剤)trong nhà tại các Drug Store hay Conbini.
b. Mua các loại thuốc bôi vào da để tránh côn trùng khi đi ra đường.
c. Giữ gìn nhà cửa khô thoáng.
d. Dùng cửa lưới (網戸)vừa thoáng nhà vừa ngăn côn trùng thâm nhập vào nhà.
 

 

Luật bất thành văn trong buổi nhậu của người Hàn Quốc

Hầu hết các công ty ở Hàn Quốc tụ tập ăn uống mỗi tuần, hoặc mỗi tháng một lần, gọi là “hoesik”.

Lịch tụ tập: Theo văn hóa Hàn Quốc, uống cùng nhau được coi là cách để làm quen và hiểu nhau hơn. Nhiều người nước ngoài lần đầu đến Hàn Quốc đều cảm thấy khó chịu khi bị ép uống, nhưng khi hiểu ra ý nghĩa của nó thì họ trở nên rất thoải mái. Charles Lee, một người Canada gốc Hàn đến Seoul làm việc chia sẻ: “Có những thứ bạn không thể nói ở chỗ làm, hoặc khi ăn trưa. Nhưng khi ai đó mời bạn một ly rượu soju thì điều đó có nghĩa là họ muốn nghe bạn nói”. Tối thứ 2 là dịp mọi người tụ tập ăn uống với bạn bè nhiều nhất. Vào giờ cao điểm cũng rất ít xe cộ, do mọi người để xe ở chỗ làm để đi uống cùng nhau. Thứ 3 là ngày nghỉ ngơi, còn thứ 4 và thứ 5 dành cho việc tụ tập với đồng nghiệp. Thứ 6 là ngày giao thông tệ nhất, vì ai cũng lái xe về nhà để sử dụng cùng gia đình vào cuối tuần.
Lịch tụ tập: Theo văn hóa Hàn Quốc, uống cùng nhau được coi là cách để làm quen và hiểu nhau hơn. Nhiều người nước ngoài lần đầu đến nước này cảm thấy khó chịu khi bị ép uống, nhưng khi hiểu ra ý nghĩa đều trở nên rất thoải mái. Charles Lee, một người Canada gốc Hàn đến Seoul làm việc, chia sẻ: “Có những thứ bạn không thể nói ở chỗ làm, hoặc khi ăn trưa. Nhưng khi ai đó mời bạn một ly rượu soju, điều đó có nghĩa là họ muốn nghe bạn nói”. Tối thứ 2 là dịp mọi người tụ tập ăn uống với bạn bè nhiều nhất. Vào giờ cao điểm, đường phố cũng rất ít xe cộ, do mọi người để xe ở chỗ làm để đi uống. Thứ 3 là ngày nghỉ ngơi, còn thứ 4 và thứ 5 dành cho việc tụ tập với đồng nghiệp. Thứ 6 là ngày giao thông tệ nhất, vì ai cũng lái xe về nhà cùng gia đình.

 

Phân biệt trên dưới: Người Hàn Quốc luôn phân biệt cao thấp trong các mối quan hệ để cư xử cho phải phép. Một trong những điều đầu tiên họ hỏi khi gặp người khác là hỏi về tuổi tác. Kể cả họ kém bạn 1 tuổi thì bạn vẫn được coi là bề trên.
Phân biệt trên dưới: Người Hàn Quốc luôn phân biệt cao thấp trong các mối quan hệ, để cư xử cho phải phép. Một trong những điều đầu tiên họ hỏi khi gặp người khác là hỏi về tuổi tác. Kể cả họ kém bạn 1 tuổi, bạn vẫn được coi là bề trên.
Tỏ sự kính trọng: Khi uống, để ly rỗng bị coi là bất lịch sự. Nếu một người lớn tuổi hơn rót rượu thì mọi người nên chờ cho tới khi người đó cũng được rót một ly rượu. Sau khi tất cả các ly được rót đầy, tất cả mọi người nói “Gunbae!” và cạn ly. Trong lúc uống, bạn phải quay người đi để khỏi che mất người lớn tuổi hơn. Một ly rượu không được tiếp thêm trừ khi uống hết hoàn toàn. Khi uống hết, ly phải được rót đầy ngay lập tức. Bạn nên chờ người khác rót cho mình chứ không nên tự rót.
Tỏ sự kính trọng: Khi uống, để ly rỗng bị coi là bất lịch sự. Nếu một người lớn tuổi hơn rót rượu, mọi người nên chờ cho tới khi người đó cũng được rót một ly rượu. Sau khi tất cả các ly được rót đầy, tất cả mọi người nói “Gunbae!” và cạn ly. Trong lúc uống, bạn phải quay người đi để khỏi che mất người lớn tuổi hơn. Một ly rượu không được tiếp thêm trừ khi uống hết hoàn toàn. Khi uống hết, ly phải được rót đầy ngay lập tức. Theo CNN, bạn nên chờ người khác rót cho mình chứ không nên tự rót.

 

 

Chợ đêm ở Đài Bắc

Ai đó nói rằng, chợ đêm là "đặc sản" của Đài Bắc (Taipei), điều ấy hoàn toàn đúng. Thành phố Taipei, diện tích chưa bằng 1/2 Thủ đô Hà Nội (khi chưa mở rộng), với hơn 270km2, nhưng có ngót chục chợ đêm như một nét văn hóa sống động trong cuộc sống của người dân xứ Đài.

 

Khách ẩm thực xếp hàng trước một quầy bánh trong chợ đêm Shida. Ảnh: Quốc Chính Đến xứ đảo Đài Loan, đặc biệt sống ở thành phố Đài Bắc, cho dù muốn hay không, ai rồi cũng sẽ quen với cuộc sống về đêm. Khi màn đêm buông xuống Đài Bắc luôn có sức cuốn hút lạ. Lớn nhất phải kể đến chợ Shilin, Ximending rộng và sầm uất gấp bảy, tám lần chợ đêm Hàng Ngang, Hàng Đào (Hà Nội). Tại chợ bày bán đủ các mặt hàng, từ những đồ nhỏ lưu niệm, đồ dùng gia đình đến quần áo, giày dép, túi xách… với giá cả rất phong phú. Mặc dù mặt hàng gần giống nhau, nhưng giữa các chợ cũng có điểm khác biệt. Nếu như ở chợ đêm Shilin hấp dẫn ở các bộ comple, may đo theo nhiều kiểu dáng thì ở chợ Wufenpu là những mặt hàng cao cấp của Hàn Quốc, còn chợ Shida, gần Trường Đại học Sư phạm Đài Loan thì là những mặt hàng phục vụ nhu cầu cho sinh viên…

Nhưng hấp dẫn nhất vẫn là các khu phố ẩm thực. Người dân xứ Đài vốn cầu kỳ trong cách ăn uống, coi đó là một nghệ thuật, cách thể hiện văn hóa và điều ấy, một lần nữa được thể hiện ở các khu chợ đêm. Đơn cử như Lu Wei, món đặc sản riêng trong chợ Shida. Lu Wei gồm hơn 100 món ăn với nguyên liệu được làm từ đậu phụ, lưỡi lợn, tim, gạo nghiền nhỏ đóng bánh, rau… Tất cả được nấu chín, bày ra khay, để trước cửa quán cho khách tự chọn những món ăn ưa thích của mình. Tuy nhiên, cái cần để tạo nên hương vị chính là nước dùng, nước sốt để làm nóng, chín các thức ăn. Mỗi loại nước dùng, nước sốt đều có hương vị rất đặc biệt và không quán nào giống nhau. Làm ra được hương vị ấy được coi là "bí kíp" của mỗi gia đình. Đây chính là sức hấp dẫn của bếp Đài Bắc với các thực khách.


Còn chợ đêm phố Hoa Tây (Hwaxhsi Jie) lại mang sắc thái khác. Chợ gần ngôi chùa Lung Shan (Long Sơn), gần 300 năm tuổi. Ở khu chợ này, người dân bản xứ vẫn duy trì nếp sống truyền thống phương Đông. Nên vừa vãng cảnh chợ, người ta cũng có thể tìm hiểu được phần nào phong tục, tập quán của người dân nơi đây như têm trầu cau, cách lễ bái và cả xem tướng số… Và cũng chỉ duy nhất chợ này mới có món thịt rắn. 


Ngoài những món truyền thống xứ Đài, trong chợ cũng hội tụ rất nhiều đặc sản của nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Tại bất kỳ chợ nào ở Đài Bắc cũng có thể tìm được món ăn của Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và món ăn được ưa thích ở châu Âu hay châu Mỹ… Nhìn vào dòng khách xếp hàng thành những dãy dài trước mỗi quán ăn trong chợ mới thấy món ăn ở đây không chỉ có sức quyến rũ với người dân bản địa mà còn cả với những thực khách nước ngoài. Bởi thế mà có người gọi, chợ đêm Đài Bắc là "khu ẩm thực quốc tế" cũng không sai. 

Thanh Hải (Gửi về từ Đài Bắc)

 

 

KINH NGHIỆM LÀM VIỆC Ở CÔNG TY NHẬT BẢN

Người Nhật có những tính cách đặc trưng như sau:
- Tính cách khá giống nhau, đặc biệt là ở Tokyo gặp ai thì cũng như nhau cả. Bởi vì họ được giáo dục đào tạo bài bản, dân tộc của họ là dân tộc thuần chủng. Đến cả thời trang kinh dị cũng có chuẩn.
- Làm cái gì cũng phải có lịch trình, kế hoạch cụ thể, được ghi vào một quyển sổ hoặc cuốn lịch để nhắc nhở công việc phải làm.
- Sòng phẳng không muốn nợ ai cái gì.

                            

 

Nên ngay cả những người bạn đồng nghiệp đi ăn với nhau, thì cũng ai trả tiền người nấy. 

- Rất tinh ý trong đánh giá và nhận xét. Người Nhật là bậc thầy trong việc chọn đối tác và trong đánh giá đối tác. 

Cứ yên tâm là đã làm việc với người Nhật thì họ sẽ đánh giá chính xác mình là người nhưthế nào: 

- Luôn luôn tuân theo qui chuẩn tại nơi họ làm việc. 

- Họ luôn muốn nhìn thấy sự tiến bộ của đối tác, của nhân viên cấp dưới có thể xuất phát điểm của bạn thấp nhưng nếu bạn tiến bộ nhanh và tiến bộ đấy là do người Nhật mang lại thì họ rất hài lòng. 

- Rất ý thức được việc gì là công việc họ phải làm. Ý thức rõ trách nhiệm và phạm vi công việc Ví dụ như trong 1 dự án thì họ hết lòng chăm sóc người của công ty đối tác sang công tác ở Nhật không phải là do tình cảm gì đặc biệt mà là do phạm vi của công việc. 

- Sợ làm phiền đến người khác: Ví dụ ở ga tầu điện rất đông nhưng không ai chạm vào ai. Họ không thích ai động vào đồ đạc của mình mà không xin phép Kinh nghiệm khi giao tiếp với người Nhật. 

- Không dấu được điều gì nên cứ bộc lộ bình thường. Đứng trên quan điểm nói thật nhưng không nói hết. 

- Đừng lo lắng nếu lúc đầu mình yếu, chỉ cần cố gắng là những cố gắng sẽ được sếp ghi nhận. 

- Người Nhật rất lịch sự trong giao tiếp, họ biết đâu là công việc mình cần phải làm. Khi làm việc với mình họ sẽ rất chu đáo và tỏ ra vô cùng thân thiện. Tuy nhiên, người Nhật luôn có những giới hạn về sự riêng tư và rạch ròi trong công việc. 

-Tôn trọng các chuẩn thành văn và bất thành văn của người Nhật, nhập gia phải tuỳ tục. 

- Luôn luôn thể hiện mình là người dưới với các đối tác Nhật (cho dù họ cần mình hay mình cần họ), cần phải vô cùng khiêm tốn khi làm việc với Người Nhật – Người Nhật ưa sự chính xác nên khi nói chuyện với họ không được nói đoán, nói đùa, không được dịch bừa mà phải cực kỳ chính xác và đúng sự thật. 

Kinh nghiệm làm sao để nói tốt tiếng Nhật: 

- Chăm giao tiếp và thích giao tiếp. Nói tiếng Nhật mọi lúc mọi nơi 

- Tư duy tiếng Việt phải trôi chảy, phải biết cách diễn đạt bằng tiếng Việt trước khi chuyển nó sang tiếng Nhật 

- Tìm kiếm cơ hội để luyện tập thường xuyên. Để ý cách nói của người Nhật và học theo. Có cơ hội là lập tức nói lại (nhái lại) giọng của họ xem phản ứng của họ thế nào. 

- Có 1 thú vui nào đó liên quan đến tiếng Nhật (Đọc tạp chí, truyện tranh, bài hát…). 

- Có động lực nào đó để thường xuyên nâng cao năng lực tiếng Nhật (đi du học, đi công tác, kết hôn với người Nhật, nâng level để tăng lương v.v.).

 

 

1 số câu cảm thán tiếng Nhật (giận dữ,..)

1. Doushite desuka / Naze desu ka / doushite? : Tại sao chứ? 

2. Osekkai / Sonna koto doudatte ii yo : Đồ lắm chuyện 

3. Doiu imi: Cậu có chuyện gì vậy? 

4. Imaha sonna hanashi sunena yo: Cậu nói làm tớ bực lắm nhá. 

5. Nande sonna ni kibi shiino: Cậu làm gì mà nóng vậy? 

6. Shiranai: Làm sao mình biết được cơ chứ? 

7. Sonna koto made shita no: Thế mà cậu cũng làm cho được. 

8. Nanto iutai doda: Thái độ của cậu đó à? 

9. Kimi no you niwa nara nai: Chẳng có ai như cậu cả. 

10. Enryo shinaide / Nanto osshai mashita ka?: Cậu nói cái gì? 

11. Kikitaku nai: Tớ không muốn nghe cậu nói nữa. .

12. Shittu rei naya tsuda: Đồ bất lịch sự . (Rei là lịch sự nha )

13. Go kai dayo: Đừng có hiểu sai .

14. Baka: Ngu ngốc, ngớ ngẩn, tệ hại 

Về từ baka thì tớ thấy có chỗ ghi là bakka. Cụ thể là trong bài Kakegae no nai uta có câu: Toki no nagare wa isogu baka ride ( Chính tôi đã nói với bạn những lời thật tệ). Còn bài distance thì có từ bakka (tớ chưa có bản dịch).

15.Hidoi: Thật kinh khủng. 

16. Warui ne: Tệ hại.

17. Daremo ga souiu yo: Ai nói không? 

18. Anata wa oshabe rida: Đồ bép xép 

19. Hinikuwo iwanaide: Đừng có chế giễu tớ .

ureshii ! – vui quá (la lá la )!

totemo kandoo shimashita ! – thật cảm động !

ii naa ! – tốt đấy !

anshin shimashita ! – an tâm rùi !

kawai sooni ! – tội nghiệp làm sao ấy !

sabishii ! – cô đơn quá !

kanashii ! – buồn quá !

kowai ! – ghê quá !

hazukashii desu ! – mắc cỡ quá !

kuyashii ! – thật là thất vọng ! thất vọng quá !

totemo zannen desu ! – đúng là đáng tiếc !

komatta naa ! – thật bối rối !, gay quá

totemo taikutsu desu ! – đúng là chán ngán !

sonna bakana ! – không thể thế đc !

hidoi na ! – thật tồi tệ !

hidoi wa ! – kinh khủng !

fuzake naide ! – đừng ngớ ngẩn thế !

subaraishii ! – tuyệt vời !

kawai i ! – thật dễ thương !

utsukushii ! – đẹp thật đấy !

hontoo ? – thật vậy ư ?

naruhodo ! – hèn chi !, tôi hiểu rồi

uso! nói láo,vô lí, ko thể như vậy được

dou shyou : làm thế nào đây nhỉ

hontou ni sou ne :đúng vậy nhỉ?

ii wa yo : được chứ

yokatta wa :thế thì tốt quá,may quá

yorokonde: thế thì vui quá

sou ne: để xem nào….

sou sou: đúng rồi

sou nano: đúng vậy đấy

sono toori: đúng như vậy

uso bakkari: anh toàn nói xạo

kini shinai de: chị đừng bận tâm

sou desu ne: phải đấy

dou datta? thế nào rồi?

nantoka: cũng tàm tạm

daijobu yo: không sao đâu

nanisamanotumori: cậu nghĩ mình là ai chứ

watashinimakesete: việc này cứ để mình lo


atamaga okasikunarisou; mình sắp mất hết lí trí rồi


samisiinogaiya: mình rất sợ sự cô đơn


kiminaikunaruto nanimodekinai: không có cậu mình cảm thấy ko có chỗ dựa

sonnani hidokunaideshou: không nghiêm trọng như thế đâu

kuti wo hasamuna;không phải việc của cậu


souiutumoriwa zenzennai: mình vốn không có ý đó


kireisappari wasureta: mình quên khuấy mất rồi

narayokatta;thế thì tốt quá

ansinsita; thế thì mình yên tâm được rồi


imamadekakusitetanda: mình giấu tài ấy mà


wakaranakatta: thế mà mình khồng nhận ra


konoteidonanoka: trông cũng bình thường thôi

ojama shimasu: tôi xin phép vào

sonna koto wo iwareru to, kinchou shimasu: cậu nói thế làm t căng thẳng quá


soune gauwa: cũng mong là như vậy


dou yatte shitano desu ka: làm sao mà anh biết được


ansinsita: thế thì mình yên tâm rồi


saa nomihoshite: nào mời cạn ly này

watashi wa kono mamade iitoomou: mình như thế này không tốt lắm sao

oseji deshou: chị đừng khách sáo như vậy


hontou yo: thật đấy


dou shitano: có chuyện gì thế


douka shita: có chuyện gì vậy

 

 

 

 

 

 

100 từ thường gặp trong Anime

Bạn thấy trong Anime có rất nhiều từ tiếng Nhật lặp đi lặp lai nghe rất quen thuộc và bạn thắc mắc không biết nghĩa của nó như thế nào. Thật đơn giản nghĩa của nó như sau:


1.abunai - nguy hiểm: Trong tiếng Nhật một từ có rất nhiều nghĩa vì vậy tùy trong từng trường hợp cụ thể nó có thể có nghĩa là nham hiểm mà cũng có thể là dữ tợn .Đôi khi nó cũng dùng với nghĩ ám chỉ một việc gì đó ko tốt hay nguy hiểm chẳng hạn "abunai kankei" ám chỉ một mối quan hệ nguy hiểm và ko có lợi.


2. ai - yêu,tình yêu:có lẽ tôi ko cần giải thích thêm về từ này. 


3. aite - địch thủ,kẻ thù: hãy coi chừng khi bạn dùng nó với một tên của ai đó


4. akuma - Xấu xí ,ma quỷ: dùng để mô tả tính cách của một người nào đó không tốt hay họ có diện mạo đáng sợ.


5. arigatou - Cám ơn:một câu nói rất thông thường.


6. baka-một lời dùng để sỉ nhục người khác:Tùy theo giọng điệu của người nói mà nó sẽ có nghĩa là "ngu ngốc" hay "người chậm tiến".Đôi khi nó dùng để nói khi 1 ai đó đang làm trò hề chọc tức người nói.


7. bakemono-quái vật,kẻ gớm ghiếc:Nó thường được các cô gái trong anime thốt ra.


8. be-da - Câu này luôn kèm theo nhưng hành động dùng để đáp lại lời chào hay vẫy gọi ai đó hoặc là lời cổ vũ khích lệ ai đó là một người thân yêu của người nói.


9. bijin - một cô gái xinh xắn(rất đẹp):Nó tương tự như từ "babe" trong tiếng anh tuy nhiên nó phải được cô gái đó đồng ý nếu không bạn đang nói một câu rất không lịch sự.


10. chigau - khác biệt,sai hướng:Nó thường được dùng khi nói một ai đó đang nhầm hay sai trong công việc:Sai rồi hay Đừng gây trò cười thế!!!.


11. chikara-khỏe mạnh,tràn đầy sức mạnh:Không cần giải thích bạn có thể biết nó dùng ra sao.


12. chikusho - Damm,Shit:Lời chửi thề khi làm hỏng việc hay gặp đen đủi.


13. chotto - một chút:Không có nghĩa là chỉ số lượng mà nó được dùng trong tình huống:Giữ lấy 1 lúc..


14. daijoubu - OK, tốt. Dùng để trả lời khi bạn được người khác hỏi thăm sức khỏe.


15. damaru - Im lặng nào


16. damasu - nói dối ,lừa gạt


17. dame - xấu, ko tốt, thôi, dùng để chỉ 1 việc gì đó ko muốn làm..


18. dare - ai đó:từ tiếp vĩ chẳng hạn,dareka-một ai đó, daremo-ko ai cả, daredemo-mọi người


19. doko - ở đâu


20. fuzakeru - nhảm nhí,dùng khi nói chuyện phiếm.


21. gaki - non nớt,dùng nói đứa trẻ ngỗ ngược .


22. gambaru - hãy làm hết sức mình:lời dặn một ai đó.


23. hayai - nhanh lên ,khẩn trương lên.


24. hen - xa lạ,số phận,định mệnh:khi dùng chỉ một sự biến đổi kiểu như Sailor Moon(thủy thủ mặt trăng).


25. hentai - tính dục,giới tính:mặc dù có tiếp từ hen nhưng Hentai ở đây có nghĩa là "biến thái, bất bình thường", hiện nay, nó chỉ có nghĩa là "biến thái" hay "loại tình dục biến thái." Loại truyện tranh khai thác các khía cạnh của tình dục được gọi là "Hentai".


26. hidoi - kinh khủng!!,thật khó chịu!!:Đây là một từ cảm thán nó có nghĩa là kinh khủng, hay thật khó chịu.


27. hime - công chúa:…


28. ii - tốt, tuyệt:khi người nói nói rằng ii thì có nghĩa là họ rất hài lòng hay khen một ai đó rất tuyệt..


29. iku - nào cùng đi..,biến đi,cút đi:nó cũng có nghĩa như ikimashou, ikou(nào cùng đi..)hay đôi khi dùng để xua đuổi một ai đó hay con vật kinh tởm nào đó.


30. inochi - cuộc sống:trong tiếng nhật có 2 từ cùng có nghĩa là cuộc sống nhưng inochi thường được sử dụng hơn.


31. itai - đau dớn ,nỗi đau,bị thương:một từ rất có ý nghĩa hihi khi đó người nói sẽ thốt ra Oái hay Ite-e!.


32. jigoku - âm phủ ,địa ngục.


33. joshikousei - một từ dùng để mô tả một cô gái xinh đẹp đầy cá tính thông thường hay nói về các cô gái trong các trường trung học mà đa phần anime và manga hay thiên về những người này.


34. kamawanai - mặc kệ nó,ko cần biết:đây là từ dùng để biểu lộ sự bất cần và ko đáng quan tâm.


35. kami - trời ơi ,chúa ơi: Một câu nói mà cũng có thể dùng để giải thích về một diều gì đó khó hiểu thần bí hoặc hoang đường.


36. kanarazu - trạng từ thường đứng trước các từ khác dùng để miêu tả một sự việc nào đó gẫu nhiên xảy ra đôi khi được dùng như thán từ :Tôi thề đó..


37. kareshi - bạn trai:Kanojo-bạn gái đây là những từ khá quan trọng mô tả về cá mối quan hệ .


38. kawaii - thông minh,đáng yêu,dùng để gọi ngời mà mình yêu mến hay fall in love..Yeah I love that word hihi.Hãy cẩn thận nếu bạn viết sai thành kawai thì nó lại có nghĩa là buồn và đầy thương đau.


39. kedo - nhưng:lưỡng lự hay có một sự thay đổi.


40. kega - vết thương,chỗ bị đau.


41. keisatsu - cảnh sát,"cớm"


42. ki - có rất nhiều nghĩa no thường dùng kèm với các từ mang tính diễn tả không đếm dược.


43. kokoro - xuất phát từ trái tim:nó dùng để nói khi người đó muốn bày tỏ tình cảm của mình rất chân thành.


44. korosu-gi - nó thường dùng trong quá khứ(korosareta) mang tính ra lệnh hơn là miêu tả.


45. kowai - đáng sợ, e sợ:đây là một từ cảm thán diễn tả nỗi sợ hãi của người nói.


46. kuru - đến đây :đây là một câu ra lệnh hay dungf để gọi một ai đó.


47. mahou - phép thuật,ma quái.


48. makaseru - nơi mà người nói rất hy vọng,hay mang nhiều sự thu hút..


49. makeru - bỏ ,từ bỏ ..:chẳng hạn Makeru mon ka nghĩa là "tôi sẽ không bao giờ từ bỏ".


50. mamoru - bảo vệ:chẳng hạn "anh sẽ bảo vệ em"


51. masaka - có thể lắm..


52. matsu - chờ chút


53. mochiron - dĩ nhiên.không nghi ngờ gì


54. mou - (xong)rồi,đủ rồi..


55. musume - một cô bé:lời nói thốt ra khi nói về 1 cô bé trông rất dễ thương!


56. naka - nói về một mối quan hệ trong gia đình hay giữa những người có cùng ý kiến chẳng hạn "Nakayoku suru" có nghĩa là "cùng nhau" "Nakama" nghĩa là "bạn thân".


57. nani - cái gì??:một câu hỏi.


58. naruhodo - tôi hiểu,à rõ rồi..


59. nigeru - bỏ chạy,chạy thôi..


60. ningen - nhân đạo,dùng chỉ những hành động rất hào hiệp nhân đạo.


61. ohayou - câu chào buổi sáng.


62. okoru - bực thật.


63. onegai - cách nói tắt của onegai shimasu nghĩa là ‘tôi xin bạn",hay dùng để cầu xin một diều gì đó.


64. oni - ma quỷ,yêu quái.


65. Ryoukai! – câu nói khi nhận được lời đề nghị "Roger!"


66. Saa - khá đấy,tốt thôi:câu cảm thán.


67. sasuga - tôi biết:câu nói của người có kiến tth]cs rộng rãi trả lời một ng` khác.


68. sempai - một ng` có thứ bạc cao hơn hay nhiều tuổi hơn


69. shikashi - dù vậy ,nhưng,tuy nhiên.


70. shikata ga nai - không thể giúp được,không có cách nào cả.


71. shinjiru - (hãy)tin rằng(vào).


72. shinu - chết nè..


73. sukoi - bảo thủ ,tàn nhẫn ..nỗi đau hằn trong trí nhớ.


74. sugoi - là một trong ba từ thường dùng với "su" suteki và subarashii là 2 từ kia ba từ này có nghĩa tương tự và được dùng xen kẽ khi nói về sức khỏe của ai đó chẳng hạn à tốt,khỏe lắm,..


75. suki - cảm xúc,ưa thích:nó hàm ý có một cảm tình rất đẹp với một ai đó khác giới:"Suki da." nghĩa là "mình rất mến(thích) bạn"


76. suru - làm:chẳng hạn "Dou shiyou?," nghĩa là "Ôi! tôi sẽ phải làm gì bây giờ".


77. taihen - vô cùng ,cực độ,dùng để mô tả moootj điều gì đó rất kinh khủng


78. tasukeru - cứu:chẳng hạn "Tasukete kure!" nghĩa là "cứu tôi!!"


79. tatakau - đánh nhau…


80. teki - quân địch kẻ thù..


81. tomodachi - bạn bè..


82. totemo - rất..,dùng để nhấn mạnh một điều gì đó.


83. unmei - định mệnh,số phận.


84. uragirimono - kẻ phản bội.


85. ureshii! – ôi! thật hạnh phúc:thán từ


86. urusai  – ồn quá,im lặng,câm đi:câu mệnh lệnh.


87. uso - lừa dối:bạn nói dối..


88. uwasa - tin đồn.


89. wakaru - hiểu rồi:nói khi được một ai đó giải thích.


90. wana - bẫy ,mưu kế..


91. yabai - khổ, câu nói than vãn: "Ôi! khổ quá nè!"


92. yakusoku - lời hứa.


93. yameru - dừng lại,hủy bỏ:Yamero! là cảm thán từ nghĩa là:"đủ rồi đó"


94. yaru - thử đi,đưa nó cho tôi:được dùng tùy thuộc vào hoàn cảnh


95. yasashii - thật dễ …:trong anime nó dùng để miêu tả một người hay đồ vật thạt dẽ thương hay nguy nga tráng lệ..yasashii hito nghĩa là tuyệt thật


96. yatta - dùng để cổ vũ:hoan hô muôn năm,nữa đi,yeah..


97. yoshi - được rồi,uh đúng đó,tôi đã xong.


98. youkai - dùng để mô tả một điều gì đó huyền bí khó hiểu hay 1 hiện tượng siêu nhiên nào đó..


99. yume - mơ,giấc mơ.


100.yurusu - tha thứ,dùng để nói khi muốn xin lỗi hay người nói bỏ qua một lỗi lầm của ai đó 

 

Kawaii – Câu nói cửa miệng của các teen Nhật

Kawaii vốn là một từ cổ của Nhật. Theo như từ điển định nghĩa thì Kawaii là cảm giác ấm áp được che chở. Đặc biệt, người ta có thể dùng từ này khi nói về trẻ em hay những con vật nhỏ bé. Tuy nhiên, ngày nay Kawaii đã trở thành câu nói cửa miệng của các teen Nhật với ý nghĩa được mở rộng hơn nhiều. “Ngày nay để nói về những thứ mình thích hay khen một cái gì đó hay, những cô gái trẻ đều dùng từ Kawaii” một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nhận Bản cho biết. Theo ông thì những thứ được dân teen gọi là Kawaii bao gồm: quần áo, đồ trang sức, hay đồ chơi… Mỗi một số báo có tên Kawaii, người ta bán được tới hơn 200.000 cuốn cho các cô gái trẻ. Trong hơn 10 năm qua, tờ báo này được xem là từ điển bách khoa cho tất cả những gì được gọi là Kawaii. Ban biên tập của tạp chí này luôn luôn gần gũi với những độc giả trẻ tuổi để cập nhật xu thế từ ngữ của giới trẻ. Họ thường xuyên có một nhóm thực tế gồm 15 bạn trẻ ở lứa tuổi thanh thiếu niên nghiên cứu về lối sống, xu thế, cũng như những thay đổi của giới trẻ. Tạp chí dành cho giới trẻ Brazil nhập vào Nhật Bản cũng có từ Kawaii ngay trên trang nhất. Trên trang mạng của Nga giới thiệu về nước Nhật cũng có từ Kawaii nổi bật. Và thậm chí còn có cả một ban nhạc Na Uy mang tên Kawaii. Theo họ, từ này mang đến sinh khí cho âm nhạc. Tất cả những điều trên có nghĩa, không chỉ dành cho trẻ em và cũng không chỉ là một từ "lóng" của những cô gái Nhật, Kawaii còn được nhắc đến ở khắp nơi trên thế giới. 

 

Những điều đáng học hỏi từ người Nhật Bản

1. Cúi nhưng không thấp 

Người Nhật có thói quen gập hơn nửa người cúi chào khách. Từ ông chủ tịch, tổng giám đốc của tập đoàn thực phẩm lớn như Acecook (Oaska) cho đến cô bé bán kem ở Lake Hill Farm (Jozankei) đều nhiệt thành ra tận xe, vẫy chào tạm biệt khách cho đến xe đi khuất hẳn. 
Ở đất nước mặt trời mọc, hình ảnh nghiêng gập người cúi chào thể hiện cả một nền văn hóa Nhật Bản: Cúi nhưng không hạ mình . Sự nhún nhường chỉ làm tăng thêm sự nể trọng của người đối diện. Trên các chuyến bay của hãng hàng không Japan Airlines, nụ cười luôn nở trên môi các tiếp viên. Họ sẵn sàng ngồi, chính xác là “quỳ xuống”, giúp khách sửa tư thế của đôi chân tê mỏi. Họ niềm nở, vui vẻ tiếp nhận yêu cầu của hành khách khó tính nhất. Không phải phẩm chất máy bay khiến hành khách hài lòng mà chính cách phục vụ của tiếp viên khiến mọi người nghĩ tốt về người Nhật. Chỉ vài phút khởi hành trễ, toàn bộ nhân viên phục vụ mặt đất và tiếp viên, phi công dàn thành hàng ngang, cúi rạp người xin lỗi khách. Họ thật sự đã thành công khi để lại ấn tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng hiếu khách và nghệ thuật giao tiếp của họ tuyệt vời.

2. Trung thực
Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các tài xế sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”. Sự trung thực của người Nhật, in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách. Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

3. “No noise” – Không ồn ào

Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả hight ways đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm phi trường rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”. Phi trường quốc tế Kansai được xây dựng trên hòn đảo nhân tạo, cách xa khu dân cư. Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa quảng cáo, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.

4. Nhân bản

Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn “để phần” 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.

5. Bình đẳng

Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi. Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, công chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động. Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên nào. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

6. Nội trợ là một nghề

Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu. Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.

 

 

5 điều nên học hỏi từ người Nhật Bản khi làm việc

1. Lời chào khi bắt đầu và kết thúc trong mỗi cuộc gặp mặt

 

Từ xưa, ông cha ta có câu: Lời chào cao hơn mâm cỗ. Người có học là người biết đi thưa về hỏi. Nó là một trong những nét đẹp truyền thống có ý nghĩa nhân văn của Nhật Bản cũng như Việt Nam, làm sao cố giữ gìn và phát huy nó, đừng để nó bị mai một.

Những điều nhỏ như nói xin chào và tạm biệt với sếp và đồng nghiệp mỗi ngày làm việc hoặc kết thúc email với lời chào thân thiện có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong việc tăng cường mối quan hệ chuyên nghiệp.

 

2. Nơi làm việc sạch sẽ, ngăn nắp

 

Người Nhật khi còn là học sinh thì phải dọn dẹp phòng học và ký túc xá. Toàn trường, từ học sinh, giáo viên tới hiệu trưởng đều phải lau sàn nhà, lau bảng và dọn rác, phế thải. Bởi học sinh biết rằng mình sẽ phải dọn dẹp nên sẽ có ý thức hơn trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung, đồng thời cảm thấy tự hào về trường hơn.

Dọn dẹp định kì nơi làm việc làm không gian trở nên sạch sẽ, tạo nguồn cảm hứng cho công việc. Chủ động dọn dẹp, nhặt rác, lau chùi – những hành động tưởng chừng nhỏ như vậy có thể cải thiện tâm trạng và thái độ của bạn về văn phòng/ công ty mình.

 

3. Học cách tôn trọng sự yên lặng

 

Trong một vài trường hợp, yên lặng còn có tác dụng hơn cả lời nói. Dù không nói, người Nhật vẫn biểu lộ cảm giác thực sự của mình một cách tinh tế. Chẳng hạn, khi một nhân viên lơ đễnh trong cuộc họp, sếp người Nhật sẽ nghiêng đầu và mím môi. Thay vì yêu cầu người đó nên tập trung vào cuộc thảo luận, sếp hi vọng anh/cô ấy sẽ hiểu rằng biểu cảm khuôn mặt thể hiện sự không hài lòng của mình.

Hãy chú ý nhiều hơn tới ngôn ngữ phi cử chỉ trong cuộc sống hằng ngày của mình. Bạn thấy những người phỏng vấn bạn tỏ ra hứng thú hay chỉ đang đếm từng phút cho tới khi bạn ra khỏi phòng? Mọi người có lắng nghe khi bạn thuyết trình hay tựa lưng vào ghế với ánh mắt xa xăm?… Một khi nhận biết được những dấu hiệu này, bạn có thể điều chỉnh cách ứng xử của mình một cách phù hợp.

 

4. Luôn giữ bản thân gọn gàng

 

Dù vẻ ngoài không phải là tất cả, những chi tiết nhỏ như đầu tóc gọn gàng, trang phục chỉn chu sau một buổi sáng làm việc “đầu bù tóc rối” có thể tạo thiện cảm với mọi người. Hãy thử một số điều giúp bản thân bạn tươi mới như bàn chải đánh răng, lược, đồ trang điểm trong ngăn bàn làm việc và đừng ngại sử dụng chúng.

 

5. Không bỏ xót những điểu tưởng chừng nhỏ bé

 

Những chi tiết chúng ta không quan tâm tới thì người Nhật lại chú ý tới chi tiết nhỏ: quy tắc ra vào thang máy, bạn nên ngồi ở vị trí nào trong taxi nếu đi cùng đồng nghiệp và loại nước nào bạn nên phục vụ khi tiếp khách hàng…

Đó là kĩ năng cần có nơi công sở. Chỉ những việc nhỏ: chỗ ngồi của mình, cử chỉ trong lúc họp , gọi nhầm số… nếu bạn làm tốt, biết cách kiểm soát những chi tiết nhỏ sẽ tạo ra sự khác biệt trong công việc làm bạn chuyên nghiệp và được yêu mến hơn.

 

Hoa anh đào – biểu tượng của đất nước Nhật Bản

Có lẽ Nhật Bản là đất nước duy nhất trên trái đất đã được lồng vào những biểu tượng khiến người ta hình dung ra ngay được đất nước này mỗi khi có người nhắc đến nó. Chẳng hạn như nói đến Phú Sĩ Sơn (Fuji-mountain) hay nói xứ Phù Tang, xứ sở Mặt trời mọc hoặc xứ của con cháu Thái Dương Thần Nữ thì người ta đều biết ngay là Nhật Bản.

Nhưng thật là thiếu sót nếu người ta không nhắc đến một biểu tượng mà tự nó bao gồm được cả không gian lẫn thời gian, bao gồm được cả nét văn hóa nhẹ nhàng thi vị đẹp đẽ của nước Nhật, bao gồm cả một triết lý sống chết cho người dân Nhật.

Đó là mùa hoa Anh Đào, Hanami là một từ của người dân Nhật và chỉ được dùng vào tiết mùa xuân , vào dịp cuối tháng 3 đầu tháng 4 lúc mà hoa Anh Đào nở rộ trên khắp mọi nơi của xứ Phù Tang (nhất là trên đảo Honshu, đảo lớn nhất của Nhật Bản). HANA có nghĩa là hoa, MI có nghĩa là nhìn, là xem. Hanami được viết bằng 2 từ Hán-Việt là "Hoa Kiến" tức là thấy hoa, xem hoa, ngắm hoa…Thời gian của Hanami được kéo dài bằng thời gian của mùa hoa Anh Đào nở. Đây là khoảng thời gian mà người dân Nhật tụ tập gia đình, bạn bè tổ chức những buổi picnic ca hát ăn uống vui đùa tại những công viên, dưới những gốc Anh Đào, bên trên hoa nở rộ trắng xóa trên những cành cây. Nhậât Bản không phải là xứ chỉ có hoa Anh Đào nở, họ cũng có những loại hoa khác cũng nở rộ vào tiết mùa xuân, cũng có những bản nhạc ca ngợi "hoa hồng đã nở" (bara ga saita), thế nhưng hanami vẫn mang một ý nghĩa riêng ám chỉ về mùa Anh Đào nở. Phải chăng hoa Anh Đào có một ý nghĩa sâu xa nào đó trong lòng con cháu Thái Dương Thần Nữ.

Chúng ta hay nói đến các loại cây Đào, hoa Đào nhưng nhiều khi chúng ta không để ý đến sự khác nhau giữa các chủng loại Đào (*). Sakura được viết chữ Hán Việt gọi là cây Anh (** theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu) . Chữ Hán vốn dĩ là một loại chữ tượng hình để ám chỉ mọi sự vật, nên chúng ta cũng tìm hiểu đôi chút về cấu trúc của chữ Anh (đào) này. Chữ Anh trong tiếng Hán bao gồm chữ Mộc (cây) bên trái + 2 chữ Bối (quí giá) bên trên + chữ Nữ (thiếu nữ) ở dưới chữ Bối và ngồi dựa vào chữ Mộc. Chữ viết cũng cho ra một khái niệm về cây Anh Đào, cây được xem như là loại cây quí với hình ảnh nhẹ nhàng của người con gái đứng tựa bên cây. Sakura cũng là một chủng loại của Đào nên vì thế được gọi là Anh Đào để phân biệt với Sơn Đào, Thu Đào, Hàn Đào, Lý Đào ..v..v. Loại hoa này (sakura) còn có tên Nhật khác là Somei Yoshino hay còn được gọi tắt là Yoshino (trên internet thì các trang web thường viết là Yoshino).

Vào mùa đông cây Anh Đào trụi lá, không một chiếc lá nào có thể ngủ yên trên cành cây qua một mùa đông giá lạnh của Nhật Bản. Xứ Phù Tang có tháng 1 giá buốt, tháng 2 lạnh giá; tháng 3 là tháng giao thời giữa đông và xuân, giữa cái lạnh cuối đông và cái ấm áp đầu xuân, giữa cái ngủ yên và cái cựa mình thức giấc. Đây cũng là lúc cây Anh Đào cựa mình, dụi mắt để đón nàng xuân về khắp mọi nơi trên xứ sở của con cháu Thái Dương Thần Nữ . Vào tuần lễ cuối tháng 3, cây Anh Đào bắt đầu đâm chồi nảy lộc, những mầm nụ đã bắt đầu ra nụ. Nụ nằm yên đó chờ cho tiết trời trở ấm thì bung nở ra hoa. Mỗi nụ hoa thường thì cho ra nhiều đóa hoa. Có nụ cho ra 2 đóa, có nụ cho ra đến 4 – 5 đóa Anh Đào. Cuống hoa Anh Đào màu hồng đậm và thân cuống có màu xanh lá. Mỗi đóa hoa chỉ lớn độ 2-3cm và nở sát vào nhau, nhưng điểm đặc biệt nhất của hoa Anh Đào là mỗi đóa Anh Đào chỉ có đúng 5 cánh hoa nằm cạnh nhau và tạo cho hoa một hình dáng cân đối. Các cánh hoa rất mỏng và mịn, cánh có màu trắng hồng phía ngoài và màu hồng của cánh hoa thường thì đậm hơn về phía nhụy hoa, làm nổi bật các đầu nhụy hoa vàng nằm ngay giữa đóa hoa. Một chút hồng nhạt trên các đầu cánh hoa hay một chút hồng đậm ở dưới cánh hoa cộng với những giọt sương sáng sớm long lanh còn đọng lại trên cánh hoa cũng là những hình ảnh tuyệt vời cho những người chụp ảnh tài tử.

Thông thường hoa Anh Đào nở bung ra vào những ngày cuối tháng 3 .Hoa chỉ nở khi thời tiết bắt đầu ấm áp, trời trở lạnh thì sẽ hãm hoa lại, hoa không nở cho đến khi tiết trời ấm lên. Từ lúc hoa Anh Đào nở cho đến khi hoa rụng , thời gian chỉ kéo dài trong khoảng 10 ngày. Một thời gian thật ngắn ngủi và cũng vì thế , mà người Nhật đã ví đời sống họ cũng giống như đời sống ngắn ngủi của hoa Anh Đào. Ngắm hoa nở rồi lai ngắm hoa rụng. Chỉ chừng đó thôi, tưởng chừng như không có gì đặc biệt cả. Thế nhưng mà tất cả sức mạnh của Nhật Bản về mọi mặt ngày nay có được, tất cả đều từ đó mà ra.

Khi hoa Anh Đào nở rộ, thì từ xa người ta chỉ thấy toàn một màu hoa trắng hồng che phủ cả toàn cây. Nếu Anh Đào chỉ là một cây đơn độc, đứng trơ vơ trên một khoảng đất nào đó thì có lẽ xem ra nó cũng chỉ bình thường như các loại cây khác, nhưng khi có dịp nhìn cả một rừng Anh Đào nở như ở Hamanako (Hamamatsu), Shinjuku-koen (Tokyo), Ginkakuji-Tetsugakudo, Tenryuji, Kiyomizu-Dera (Kyoto), Nara-koen (Nara)..v..v. Một hàng Anh Đào nở bên một con sông nhỏ, xa xa ẩn hiện mái đền Thần Đạo hay mái chùa cổ kính hoặc những con rùa đá được đặt nằm giữa dòng sông thì người ta mới cảm được cái đẹp nhẹ nhàng nhưng không kém phần rực rỡ của Anh Đào và cái không gian thiền vị vây quanh. Đấy là cái tâm linh thực sự của người Nhật.

Từ một cây trụi lá mùa đông, hoa Anh Đào nở bung để làm đẹp đầu xuân và để rồi cũng ra đi trong khi xuân vẫn đang hiện hữu. Hoa ra đi tức là hoa rụng, nhưng hoa Anh Đào lại cũng đẹp nhất là khi hoa rụng. Khi rụng, hoa Anh Đào không rụng như những loại hoa khác, cuống hoa không vội lìa cành vội, không rơi rụng từng đóa hoa mà hoa lại rụng từng cánh hoa một. Năm cánh hoa lần lượt thay phiên nhau nhẹ nhàng tung bay theo từng cơn gió thổi. Cánh hoa đã nhẹ, đã mỏng, sắc hoa màu trắng hồng tung bay theo làn gió trông như những lúc hoa tuyết nhẹ rơi vào mùa đông Nhật bản. Những lúc ấy, người ta mới cảm nhận được cái đẹp trọn vẹn của hoa Anh Đào nở. Ngaỳ xưa, tinh thần thiền đạo của Nhật Bản đã nhân cách hóa đời sống của hoa anh đào vào đời sống của các chiến binh Samurai trước thời Minh Trị. Người chiến binh samurai dù bất kể họ phục vụ cho các shogun (tướng quân) nào, họ hãnh diện về giai cấp samurai của họ. Họ tự ví đời sống họ, tuy ngắn ngủi đó, nhưng đẹp tựa như hoa anh đào khi nở và cái chết cũng đẹp tuyệt vời như cánh anh đào bay vào giữa khoảng không. Những ai đã có dịp xem phim zchiến binh Samurai cuối cùng (The last Samurai) thì đều có dịp thấy hình ảnh này mà nhà đạo diễn phim đã cố tình cho người xem thấy được cái tinh thần samurai nở trong đóa hoa Anh Đào. Đời sống của hoa Anh Đào tựa như một thoáng phù du, đến và đi chỉ là một sự đơn giản của lẽ vô thường. Nhưng qua cuộc sống phù du ấy, hoa Anh Đào đã để lại cho thế gian hai bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, một bức hoa nở rộ rực rỡ dưới ánh nắng xuân và một bức những cánh Anh Đào tung bay uốn lượn theo làn gió, đùa nghịch với khoảng không trước khi về nằm yên trên mặt đất. Samurai cũng thế, xem đời sống mình như đời sống của đóa hoa anh đào. Ở đó, sự sống và sự chết đều có nét đẹp như nhau.

Ngày nay, giai cấp Samurai đã ra đi nhưng tinh thần Samurai trong lòng người dân Nhật hình như vẫn còn đó, khi những mùa xuân Anh Đào vẫn còn nguyên vẹn trên xứ Phù Tang.

Ngoài ra, Anh Đào còn là đóa hoa được nhiều tôn giáo, đảng phái, tổ chức của Nhật chọn làm dấu biểu tượng (logo) cho mình. Như giáo hội Thiên Lý Tenrikyo, một giáo phái khá lớn của vùng Kansai lấy hoa Anh Đào làm biểu tượng cho giáo hội. Năm cánh hoa tượng trưng cho giáo thuyết của Thiên Lý. Mỗi tổ chức đều có những định nghĩa riêng về ý nghĩa biểu tượng của mình. Anh Đào còn biểu hiện cho sự đoàn kết, một cây anh đào dù có nở nhiều hoa đến như thế nào chăng nữa, nó vẫn không làm sao khoe được cái đẹp, cái rực rỡ như một vườn anh đào đang nở. "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Câu ca dao dân gian của người Việt Nam lại hết sức phù hợp cho xứ Nhật.

Đôi điều về hoa anh đào mùa xuân Nhật Bản, một chút điểm qua về tâm tư người Nhật, một thoáng qua về hoa anh đào nở. Bây giờ chúng ta hãy cùng bước vào một khu vườn anh đào đang nở, chúng ta có thể nằm im dưới gốc anh đào ngắm hoa hay chúng ta có thể lững thững dạo bộ xem hoa. Thấy hoa, xem hoa và ngắm hoa anh đào như thế, chúng ta sẽ hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của chữ "hanami" . Chưa có dịp nhìn hoa Anh Đào nở, chưa có dịp nhìn mùa thu lá vàng Nhật Bản thì thật là khó ai có thể cảm nhận được cái gọi là thần kỳ của Nhật Bản, cái thần kỳ đã đưa đất nước Phù Tang đi lên từ những điêu tàn đổ nát tan hoang sau cuộc đệ nhị thế chiến để họ có được như ngày nay.

 

 

Tỉnh Chiba và những điều chưa biết

Chiba (Tiếng Nhật: 千葉県 Chiba-ken, Thiên Diệp) là một tỉnh của Nhật Bản, thuộc vùng Kanto. Tỉnh này nằm ở phía Bắc vịnh Tokyo, giáp với Ibaraki ở phía Bắc, Saitama và Tokyo ở phía Tây, phía Đông trông ra biển Thái Bình Dương. Trung tâm hành chính là thành phố Chiba.

Thủ phủ      Thành phố Chiba

Vùng           Kanto

Diện tích     5.156,60 km² (thứ 28)   

Dân số        6.056.159 (thứ 6)

Mật độ     1.190 /km²

 

Lịch sử

Thành phố được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1921. Vào thời Heian, thành tích được ghi nhận cho thành phố là cuộc di dân của Taira Tsuneshige (平常重 - Bình Thường Trọng) đến Chiba. Ông tự tuyên bố "Chiba no Suke" (千葉介 - Thiên Diệp trợ) và thành lập chính quyền quanh khu vực thành phố Chiba ngày nay. Con cháu của ông đều có họ là Chiba và tiếp tục thống trị vùng này cho tới thời kì Muromachi. Thời kỳ Kamakura, Chiba Tsunetane (千葉常胤 - Thiên Diệp Thường Dận) đã giúp đỡ Minamoto Yoritomo (源頼朝) thành lập vương triều Kamakura Bakuhu. Điều này đã làm cho dòng họ Chiba có ảnh hưởng rất lớn trong Kamakura Bakuhu. Ông đã cho xây dựng lâu đài Inohara trên đỉnh núi Inohara và chuyển tất cả gia đình, thân tín từ lâu đài Oohji, lên Inohara.

Sức mạnh và ảnh hưởng của dòng tộc Chiba cũng suy tàn do chiến tranh quanh vùng Kanto trong thời kì Muromachi. Vào thế kỷ 16, dòng tộc Hara, vốn là dòng dõi hầu cận của dòng tộc Chiba, đã thay thế Chiba nắm giữ quyền kiểm soát khu vực. Vào thời kì Sengoku, dòng tộc Hara bị lật đổ bởi Ashikaga Yoshiaki (足利義明 - Túc Hòa Nùng Minh, hoặc 足利義昭). Sau đó, Ashikaga Yoshiaki cũng bị dòng Sakai (酒井 - Tửu Tỉnh), hầu cận của dòng Satomi (里見 - Lý Kiến), lật đổ. Cuối cùng, cả dòng Chiba và Sakai đều bị Toyotomi Hideyoshi tiêu diệt.

Thời kì Giang Hộ, cả dòng họ Oyumi (生実 - Sinh Thực),(Morikawa (森川 - Sâm Xuyên)) và dòng Sakura cùng quản lí khu vực này. Một phần của vùng được Tokugawa Bakuhu quản lí trực tiếp. Dòng Oyumi điều hành lãnh thổ của họ rất vững chắc. Phía bên kia, dòng Sakura liên tiếp thay đổi người đứng đầu, như là Takeda Nobuyoshi (武田信吉), Matsudaira Tadateru (松平忠輝). Ogasawara Yoshitsugu (小笠原吉次), Doi Toshikatsu (土井利勝)… Cuối cùng, dòng tộc Hotta(堀田 - Quật Điền) cũng lên quản lí lãnh địa của mình rất vững mạnh.

Thuộc tỉnh Chiba có 56 đơn vị hành chính gồm 36 thành phố, 20 làng và thị trấn.

Làng và thị trấn:

• Awa Gun: Kyonan

• Chosei Gun: Chonan, Chosei, Ichinomiya, Mutsuzawa, Nagara, Shirako   

• Inba Gun: Inba, Motono, Sakae, Shisui

• Isumi Gun: Onjuku, Otaki   

• Katori Gun: Kozaki, Tako, Tonosho

• Sanbu Gun: Kujukuri, Oamishirasato, Shibavama, Yokoshibahikari

Kinh tế

Chiba có vùng công nghiệp Keiyo là nơi tập trung nhiều cơ sở công nghiệp mà ba ngành chính là lọc dầu, hóa chất và chế tạo máy. Chính quyền tỉnh đã đầu tư phát triển tới 80 khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư tới phát triển kinh tế tỉnh. Tỉnh này còn có sản lượng Iốt từ mỏ khí ga lớn nhất Nhật bản.

Chiba là tỉnh có sản lượng nông nghiệp lớn thứ hai trong các tỉnh ở Nhật Bản. Đặc sản nổi tiếng là lạc. Ngành ngư nghiệp cũng phát triển, sản lượng đánh bắt hải sản đứng thứ 5 (2002). Có nhiều khu nuôi tôm và cá trình rất lớn.

Chiba có ngành du lịch phát triển. Có nhiều khu vui chơi giải trí lớn nằm ở tỉnh này như Tokyo Disneyland, Tokyo Disneysea. Sân bay Narita là sân bay quốc tế lớn nhất Nhật Bản cũng nằm ở đây.

Giao thông

Hàng không

Sân bay quốc tế Narita và Sân bay quốc tế Tokyo là 2 sân bay quốc tế gần nhất.

Đường sắt : Thành phố Chiba còn nổi tiếng với tuyến đường xe điện trên không (Monorail) dài nhất thế giới. Điều đặc biệt hơn là toa xe được thiết kế treo dưới đường ray (thay vì kiểu truyền thống là chạy trên đường ray):

Nhà ga ChibaCông ty Đường sắt đơn đô thị Chiba điều khiển tàu chạy trong nội thành. Ga tàu chính là ga Chiba, ga Keisei và ga Soga.

Đường bộ

Xa lộ Higashikanto đến Tokyo, Narita và Kashima.

Xa lộ Tateyama đến Kisarazu. 

Giáo dục

Đại học Chiba: là một đại học tổng hợp đa ngành thuộc Top 10 trường ĐH tại Nhật Bản. 

Trường tiếng Nhật FUTABA

Futaba là một hiệp hội giáo viên những người muốn giúp đỡ người nước ngoài ngoài sống tại Nhật Bản với nhu cầu cầu về ngôn ngữ của họ. Trường có những lớp học chung và những lớp học riêng được thiết kế phù hợp với trình đọ của học viên để học viên có thể vượt qua kỳ thi năng lực tiếng Nhật hoặc những kì thi tiếng Nhật khác.Tất cả các giáo viên tại Futaba đều là những người có khả năng giảng dạy ngôn ngữ chuyên nghiệp và muốn giúp đỡ các du học sinh tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản. Trường thiết kế các chương trình học đáp ứng nhu cầu của các học viên từ những lớp cơ bản cho tới nâng cao. Học viên dù ở bất cứ trình độ nào cũng được xếp vào lớp phù hợp với trình độ và mong muốn của mình để phát triển vốn tiếng Nhật.

Vị trí

Trường có vị trí rất thuận tiện khi chỉ cách ga xe điện Chiba-Chuo 1 phút đi bộ, và Ký túc xá chất lượng cao cách trường 20 mét (xin xem hình bên)

Thể thao

•    CLB Kashiwa Reysol

•    CLB JRF United I chihara Chiba

Du lịch

•    Tokyo Disney Resort

•    Khu triển lãm Makuhari Messe

•    Bảo tàng Lịch sử Dân tộc quốc gia

•    Chùa Naritasan

•    Công viên thủy sinh vật Suigosawara

 

 

 

Nhật Bản – Cái nhìn tổng quan

1. Vị trí địa lý :

Nhật Bản là một đảo quốc ở Đông Bắc Á. Các đảo Nhật Bản là một phần của dải núi ngầm trải dài từ Đông Nam Á tới Alaska. Nhật Bản có bờ biển dài 37.000 km, gồm 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaidou, Honshu, Shikoku, Kyushu và rất nhiều đảo nhỏ xung quanh. Đồi núi chiếm 73% diện tích tự nhiên cả nước, trong đó không ít núi là núi lửa. Ngọn núi cao nhất lànúi Phú Sĩ (Fujisan) cao 3776 mét. Giữa các núi là các cao nguyên và bồn địa. Nhật Bản có nhiều thác nước, suối, sông và hồ. Đặc biệt, ở Nhật Bản có rất nhiều suối nước nóng, là nơi hàng triệu người Nhật thường tới để nghỉ ngơi và chữa bệnh.

Nhật Bản - Núi Phú Sỹ

Núi Phú Sỹ – hình ảnh quen thuộc khi nhắc đến Nhật Bản                                           

2. Thủ đô, các thành phố lớn

Nhật Bản có 47 tỉnh và 12 thành phố, chia thành 9 vùng, bao gồm: Hokkaido, Tohoku, Kanto, Chubu, Kinki, Chugoku, Shikoku, Kyushu, và Okinawa. Thủ đô là Tokyo – cũng là trung tâm chính trị, kinh tế và thông tin của Nhật Bản.                                                   

3. Diện tích, dân số, cơ cấu dân số, tỷ lệ lao động và thất nghiệp

3.1. Diện tích:

Nhật Bản có diện tích khoảng 377.829 km², là một quốc gia nhỏ hẹp, chiều dài từ Bắc tới Nam khoảng 3.500km, do địa hình nhiều đồi núi nên Nhật Bản chỉ có rất ít đất có thể dùng để trồng trọt. Các cánh đồng được canh tác chiếm 12,3%, diện tích trồng cây ăn quả chiếm 1,1% và đất trồng cỏ chiếm 0,2% diện tích quốc gia. Ngược lại, đất rừng chiếm tỷ lệ lớn nhất, 66,5% trên tổng diện tích đất.  

3.2. Dân số:

Năm 2012, Nhật Bản có khoảng 127,37 triệu dân, chiếm khoảng 1,81% dân số thế giới và đứng thứ 10 trong số các nước đông dân. Dân cư ở Nhật phân bố không đều, phần lớn tập trung ở các trung tâm lớn: Tokyo, Yokohama, Nagoya, Osaka, Kobe và Kyoto. Thủ đô Tokyo có 12,7 triệu người và mật độ dân số cao nhất nước khoảng 54.700 người/ km², trong khi ở Hokkaido – tỉnh thưa dân nhất có mật độ 74 người/ km². Dân số ở các thành phố và các thị trấn chiếm khoảng 4/5 dân số Nhật Bản, chỉ có khoảng 1/5 dân số còn lại sống ở vùng đồng bằng ven biển.

Dân số Nhật Bản đang già đi quá nhanh, tỷ lệ sinh thấp dẫn đến lực lượng lao động trong nước đang ngày càng thu hẹp, thiếu nhân lực ở độ tuổi lao động trầm trọng.

3.3. Tỉ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản

Bộ Lao động Nhật Bản vừa cho biết tỷ lệ thất nghiệp ở nước này trong tháng 5/2012 đã giảm xuống mức 4,4%, thấp hơn 0,2% so với tháng 4. Theo đó, số người thất nghiệp trong tháng 5/2012 là gần 3 triệu người, chiếm 3,3% lực lượng lao động Nhật Bản; số người có việc làm tăng lên gần 63 triệu người, tức cứ 100 người tìm việc thì 81 người có được việc làm, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng tại vùng Đông Bắc.

Tỷ lệ thất nghiệp giảm chứng tỏ nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đang hồi phục sau thảm họa động đất kéo theo sóng thần hồi tháng 3/2011.

4. Khí hậu và thời tiết:

Khí hậu Nhật Bản thay đổi rõ rệt theo 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông. Mùa Xuấn đến vào đầu tháng 3 được đánh dấu bằng đợt không khí lạnh. Vào cuối tháng 4 và tháng 5, vùng đồng bằng của Nhật Bản có thời tiết đẹp nhất trong năm, nhiệt độ trung bình 120C ở Sapporo, 18,40C ở Tokyo và 19,20C ở Osaka. Cuối mùa xuân, nhiệt độ và độ ẩm tăng lên và nó được nhận biết bởi những đám mây dày rộng chừng 300 – 400 km che phủ mặt trời và làm cho thời tiết bớt đi sự ngột ngạt. Mưa không liên tục nhưng có thể là rất to.

Mùa Hè, mưa thường từ phía Nam và phía Tây Nhật Bản vào đầu tháng 6 và tiến dần lên phía Bắc vào cuối tháng. Giữa mùa hè có những ngày nóng và đêm oi bức do đứng gió. Nhiệt độ trung bình tháng 8 ở Tokyo là 26,70C và 280C ở Osaka. Cuối tháng 8 gió mùa nóng ấm, lập lại những trận mưa đầu mùa hè, ở Sapporo, Sendai và Tokyo đều có mưa nhiều vào tháng 9 (mưa Shurin).

Vào mùa Thu, mưa Shurin tạo một mùa chuyển tiếp ngắn cuối thu vào đầu đến giữa tháng 10 tùy theo vĩ độ và kéo dài đến tháng 11, lúc bắt đầu mùa đông. Mùa thu tiết trời mát mẻ và rất dễ chịu.

Mùa đông đến với Nhật Bản từ đầu tháng 12 đến tháng 2. Hầu hết các vùng của Nhật Bản có tuyết rơi vào mùa đông. Gió mùa Đông Bắc thổi từ lục địa châu Á tới bị chặn bởi hệ thống núi đồi chạy dọc nước Nhật gây ra tuyết rơi nhiều từ Hokkaido đến trung tâm Honshu. Tỉnh Nigata là một trong những tỉnh có nhiều tuyết nhất thế giới với kỷ lục tuyết dày 8 mét. Nhiệt độ trung bình hàng tháng vào mùa đông ở Asahikawa là -8,50C và là thành phố giữ kỷ lục nhiệt độ thấp nhất ở Nhật -410C.

Hoa Anh Đào – biểu tượng của đất nước Nhật Bản

5. Ngôn ngữ

Tại Nhật Bản, có 12 ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Nhật Bản, một ngôn ngữ bản xứ không thuộc ngữ hệ Nhật Bản là tiếng Ainu và vài ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Trung Quốc được người Nhật sử dụng.

6. Tôn giáo

Ở Nhật có hai tôn giáo chính là Thần đạo (Shinto) và Phật giáo. Thần đạo không có người sáng lập, cũng không có các loại kinh kệ riêng như kinh Thánh hay kinh Phật. Phật giáo bắt đầu từ Ấn Độ từ thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Một nhánh chính của Phật giáo, nhánh Mahayana hay gọi là Phật giáo Đại thừa đã du nhập vào Nhật Bản. Phật giáo được du nhập vào Nhật từ Trung Hoa và Triều Tiên vào thế kỷ thứ 6.

Bạch thành Himeji 

7. Đồng tiền, tỷ giá quy đổi VND[DTD1]

Yên là đơn vị tiền tệ của Nhật Bản, có ký hiệu là ¥, và có mã là JPY, do Ngân hàng Nhật Bản phát hành.

Tỷ giá quy đổi: 1 Yên ≈ 257 VND (theo thời điểm 21/06/2011)                                     

8. Giao thông, phương tiện đi lại

Tại Nhật Bản, các phương tiện giao thông công cộng đi lại chủ yếu bằng tàu điện. Hệ thống giao thông ở Nhật rất phát triển, tại các thành phố lớn, chỉ cần đi bộ 5 ~ 15 phút sẽ đến được ga tàu gần nhất. Bên cạnh đó, ở một số vùng ngoại ô và nông thôn, người Nhật Bản sử dụng xe buýt (nếu không có xe hơi). Trong thành phố cũng sẽ có một số tuyến xe buýt nếu đi tàu không tiện lợi.

 

 

Osaka – Trung tâm công nghiệp và hải cảng chính của Nhật Bản

Là thành phố lớn thứ ba của Nhật Bản với dân số 2,7 triệu người, Osaka thuộc đảo Honshu, nằm ngay cửa sông Yodo trên vịnh Osaka. Osaka vốn là trung tâm thương mại của Nhật Bản và bây giờ vẫn là trung tâm công nghiệp và hải cảng chính, “trái tim” của tam giác đô thị Osaka – Kobe – Kyoto. 

Osaka là thành phố hội tụ truyền thống và văn minh, quá khứ và hiện tại. Do đó từ lâu nơi đây đã trở thành địa chỉ du lịch thú vị, nhất là về văn hóa, phong thủy (sự hài hòa trong môi trường sống).

Giữa thế kỷ thứ 7, Osaka trở thành thủ đô của Nhật. Vào thời gian đó, thành phố hưng thịnh này là trung điểm giao thương đường thủy của nhiều quốc gia, nhờ hệ thống sông ngòi chằng chịt. Cũng chính từ đó, Osaka được gọi là thành phố nước.

Những công trình kiến trúc ở Nhật Bản thể hiện được yếu tố mà ngày nay châu Âu đang tìm hiểu, đó là phong thủy. Từ nhà ở cho đến công viên, vườn hoa, lâu đài và các công trình lớn khác đều được người Nhật chú ý kết hợp hai yếu tố núi và sông nước (sơn thủy), thể hiện hài hòa với thiên nhiên, môi trường sống xung quanh.

Đi đâu, chơi gì?

Thành phố Osaka được người dân Nhật Bản đặt cho nhiều biệt danh khác nhau: thành phố nước, nhà bếp của Nhật, cửa ngõ của quốc gia, thành phố sương mù…Điều đó cho thấy Osaka không chỉ là vùng đất phát triển kinh tế. Đây còn là thành phố chức đựng nhiều truyền thống, sự huyền bí thể hiện qua các câu chuyện, sự tích.

Một trong những nét nổi bật ở Osaka là có nhiều đền thờ, miếu, chùa chiền. Mỗi ngôi đền, mỗi ngôi chùa đều gắn liền với sự tích mà người dân Nhật đến nay vẫn còn sùng tín. Đền Taiheji ở Osaka được người dân Nhật cho rằng đây là nơi dừng chân thứ 13 của Phật và là 1 trong số 13 vùng đất Phật trên thế giới. Cho nên, đến nay, các gia đình Nhật, khi có con lên 13 tuổi, thường dẫn chúng đến viếng vùng đất thánh này, đặc biệt vào 2 ngày 13 – 14 tháng 3 hằng năm. 

Lâu đài Osaka là một trong những nơi không thể không ghé qua khi đến thành phố này. Được Toyotomi Hideyoshi khởi công xây dựng vào năm 1585, phải mất 2 năm với số thợ từ 20.000 đến 30.000 người làm việc mỗi này, lâu đài Osaka mới hoàn thành. Lâu đài Osaka được xây dựng bằng đá với ba gian trong. Một trong những tảng đá lớn của tường gian chính cao 2,8m, dài 14m. Lâu đài Osaka bị đốt năm 1616, sau đó được xây lại. Năm 1665, cũng do chiến tranh, tháp chính bị thiêu hủy và hầu hết phần kiến trúc còn lại của lâu đài cũng bị cháy rụi vào năm 1868. Năm 1931, tháp chính của lâu đài được nhân dân thành phố Osaka xây lại bằng bê tông cốt thép như hiện nay. 


Hoa anh đào ở đây đẹp nhất so với những vùng còn lại ở Nhật. Du khách sẽ thấy một lâu đài cổ kính nằm gọn trong một rừng hoa, rồi rừng hoa đó lại nằm gọn trong một hồ nước và hồ nước nằm giữa công viên với xa xa bốn phía là các tòa nhà cao tầng. 

Du khách có thể đứng trên tháp cao nhất của tòa lâu đài nhìn ra xung quanh, cảm nhận vẻ đẹp rạng rỡ của tấm thảm hoa trắng hồng, màu xanh của nước và của trời in trên nó… 

Đến Osaka, ngoài viếng thăm nhiều đền chùa, tượng đài, lâu đài cổ, bảo tàng…, du khách còn được chứng kiến hồ cá nhân tạo Osaka lớn nhất nhì thế giới. Ở phía nam Osaka có một công trình mà người dân nơi đây rất tự hào – đó là đảo nhân tạo rộng 160ha. Kaiyukan (Hải Du quán) nằm trong vịnh Osaka trưng bày 35.000 loài sinh vật biển sống trong 14 bể nước lớn. Khu phố điện tử Nipponbashi náo nhiệt, khu cảng Osaka với tòa Thủy Tinh cung tái hiện đại dương huyền ảo, vòng xoay cao nhất thế giới giúp du khách ngắm nhìn toàn cảnh thành phố…, đều là những nơi đáng được mọi người tham quan.

Sân bay Kansai giống như một ốc đảo vì nó được xây dựng trên một vùng đất lấn ra biển của thành phố Osaka. Để đến được đó, hành khách phải đi qua những cây cầu bắc trên biển. Và điều tuyệt vời nhất là khi máy bay bắt đầu rời khỏi sân bay là bạn có thể cảm nhận được sóng biển dưới chân mình. Nếu như khi xây dựng sân bay Hong Kong, người ta phải phá núi. Thì ở đây, khi xây dựng sân bay Kansai, người ta phải lấp biển. 

Với hệ thống điện báo cụ thể, rất chi tiết cùng sự nhiệt tình chỉ dẫn của nhân viên tại sân bay, du khách dễ dàng tìm được một chuyến tàu về trung tâm thành phố khi đến sân bay Kansai. 

Osaka có những khu mua sắm nổi tiếng như khu phố Denden nổi tiếng về các sản phẩm điện tử, Namba với quần áo và đồ trang sức và các địa điểm khác như Shin-Osaka, Osaka-ko và tòa nhà cao nhất Osaka, nơi bạn có thể ngắm toàn cảnh Osaka. 

Tiếp theo, du khách có thể dùng các tuyến tàu điện để đi đến các địa điểm ngoại ô hơi xa một chút nhưng cũng nhiều điều thú vị bất ngờ. 

Đến đây du khách không thể bỏ qua việc đi thăm những khu vườn cổ. Khu vườn này không có lối cho du khách vào vì nó nằm giữa một hồ nước. Tuy nhiên, chỉ đi vòng quanh bờ hồ ngắm nhìn khu vườn từ xa với những chú vịt trời đang âu yếm nhau rất lãng mạn hoà cùng phong cảnh thiên nhiên hữu tình cũng đủ làm du khách toại nguyện. Ngoài ra du khách còn có dịp thả hồn trong những khu vườn đặc trưng kiểu Nhật với hoa, lá, hồ nước, cá, chim… Nếu du khách may mắn đến khu vực này vào dịp đầu tháng năm, thì sẽ có dịp tham gia vào một festival, nơi hội tụ của những người chơi hoa cảnh và cây bonsai ở Nhật. 

Nếu chọn đường biển, du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng khung cảnh Osaka nhìn từ phía biển để thấy hết cái đẹp của thành phố này. Từ xa, bạn có thể nhìn thấy một cái tháp treo to nhất ở Nhật. 

Nếu bạn ngồi trên đó, đi hết một vòng cũng mất ít nhất tới 20 phút. Gần hơn một chút, du khách sẽ nhìn thấy thủy cung nơi hội tụ hầu hết các loài cá ở Nhật và biển từ từ hiện ra. 

Một con tàu chiến kiểu cổ bằng gỗ gọi là Santa Maria sẽ phục vụ du khách một chuyến tham quan kỳ thú, ngắm nhìn bến cảng Osaka, thành phố Osaka phía xa cũng như sân bay Kansai. 

Phía bờ đối diện là khu vui chơi, giải trí Universal Studio nơi bạn có thể say sưa trong khung cảnh của các bộ phim nổi tiếng của hãng Universal Studio như phim “E.T” , “Terminator”, “Jurassic Park” cũng như thưởng thức các món ăn tuyệt vời như đùi gà hun khói, bắp hấp bơ, xúc xích nướng với wasabi… 

Con đường toàn hoa Sakura ( tính ra Nhật Bản có tất cả 61 loại hoa Sakura)

Khu cảng Osaka có thể nói là một nơi hẹn hò khá lý tưởng. Bạn có thể cùng người yêu ngắm biển, dạo chơi trong thủy tinh cung, đi mua sắm hay ngồi trong vòng xoay đi lên độ cao trên 100m ngắm nhìn thành phố trong những bản nhạc êm dịu và lắng nghe lời giới thiệu về quang cảnh trước mắt… 

  Nhưng nếu bạn đi quá một ga tàu nữa, bạn có thể khám phá một vùng đất mới của Osaka. Nơi đây có một hệ thống monorail riêng đưa bạn ra vùng cực của đảo. Nơi đầu tiên mà bạn đến là khu trung tâm thương mại Trade Center. Đến đây vào những ngày nghỉ bạn sẽ thấy không khí thật tấp nập. Khác một chút với cảng Osaka, nơi đây tập trung các gia đình nhiều hơn là các cặp tình nhân. Nó là một quần thể các khu mua sắm, giải trí và thư giãn. Ở toà nhà Asia and Pasicfic Trade Center (ATC) có rất nhiều các hàng quán, đồ ở đây đẹp lạ và khá rẻ nên chắc chắn bạn có thể tìm thấy những món quà lưu niệm ưng ý cho người thân của mình đấy. Từ những món đồ chơi trẻ em, các món đồ kỷ niệm ngộ nghĩnh, quần áo cho đến những thứ đồ cổ mang phong cách Âu Mỹ và hàng loạt những nhà hàng Âu Á đủ loại. 

Bước ra ngoài bạn có thể ngắm nhìn toàn bộ cảnh biển của cảng đằng sau hàng cọ cao thẳng tắp, những hàng ghế xen kẽ vớí những bồn hoa màu sắc sặc sỡ dưới những mái che có hình cánh quạt. Đứng từ cầu tàu vươn ra biển bạn hãy thử quay lại thưởng ngoạn kiến trúc độc đáo của ATC được cách điệu thành hình một con thuyền vĩ đại ôm lấy bờ cảng. Và một điều đặc biệt là nơi cầu tàu này còn lưu giữ lại rất nhiều những kỷ niệm của những người đang yêu. Bạn có thể bắt gặp hàng trăm ống khoá với đủ hình thù khác nhau được bấm vào các song sắt. Trên các ống khoá có ghi lại tên và ngày tháng như mong muốn gửi gắm lời ước nguyện về một tình yêu bền chặt vào gió và biển. 

Sang đến toà nhà World Trade Center, bạn hãy thử lên tham quan. Đầu tiên, bạn sẽ được đưa vào một thang máy bằng kính trong suốt mà vừa đi bạn có thể ngằm nhìn cảnh vật xung quanh dưới mặt đất cho đến khi mọi thứ trở nên bé xíu như những món đồ chơi. Sau đó một cầu thang cuốn hẹp và cao vút sẽ đưa bạn lên đến tầng 52, và trước mắt bạn là toàn cảnh thành phố Osaka trải dài đến tận chân trời. Ở đây có một số chỗ cho bạn có thể ngồi ngắm cảnh được bố trí như khoang lái của một phi thuyền. Chính giữa là một quán bar phục vụ nước uống, snack và kem với giá cả rất phải chăng nhưng cũng rất ngon. Vừa nhâm nhi cốc kem dâu chua chua ngọt ngọt vừa ngắm nhìn thành phố sau những làn mây mờ thì còn gì thú vị hơn nữa nhỉ …

Mỗi hội chợ, Osaka đón khoảng 20 triệu người trong khi dân số hiện nay chỉ khoảng 15 triệu. Không sai khi người ta mệnh danh Osaka là động cơ của cỗ máy kinh tế Nhật.

Đến, đi lại bằng gì?

Để đến Osaka có nhiều cách. Có thể bay thẳng đến Tokyo rồi đi tàu siêu tốc đến Osaka. Một cách khác là bạn hãy bay thẳng đến Osaka để đáp chuyến bay xuống sân bay Kansai, một nét đẹp của Osaka và là niềm tự hào của Osaka nói riêng và nước Nhật nói chung. 

Tokyo và Osaka được kết nối với nhau bởi JR Tokaido Shinkansen. Xe lửa Nozomi yêu cầu 155 phút để đến trạm Shin –Osaka từ Tokyo. Xe lửa Hikari có hành trình 20 phút chậm hơn Nozomi trong khi xe lửa Kodama mất khoảng 4 tiếng. 
Khách du lịch nước ngoài thăm Tokyo như một chuyến đi từ bên Osaka. 

Xe lửa địa phương đi từ Tokyo đến Osaka mất khoảng 9-10 giờ và thường bao gồm việc chuyển 4 trạm xe lửa. 
Những tuyến đường đi từ Tokyo đến Osaka bằng xe buss mất khoảng 8 tiếng. Hiện nay có cả xe bus hoạt động ban ngày và ban đêm. Các công ty xe buss cạnh tranh quyết liệt và đã có rất nhiều chương trình giảm giá cho khách su lịch. 
Nếu du khách đi bằng máy bay giữa Tokyo và Osaka mất khoảng 1 tiếng. Phần lớn các chuyến bay thường phục vụ tại sân bay Haneda của Tokyo và sân bay Itami của Osaka. Một số lượng nhỏ các chuyến bay cũng được phục vụ tại sân bay Narita của Tokyo và sân bay Kansai của Osaka. 

Osaka có hai trung tâm thành phố chính và 4 trạm xe lửa chính. Hai trung tâm thành phố là Kita xung quanh Osaka/Trạm Umeda và Minami xung quanh trạm Namba. 

Ga JR Osaka nằm ở trung tâm của quận Kita. Hai công ti đường sắt khác và 3 đường xe điện ngầm có trạm riêng nằm trong vùng lân cận của ga JR Osaka. Các xe lửa Shinkansen không dừng lại ở ga Osaka, nhưng lại dừng ở ga Shin-Osaka. Ga Shin – Osaka nằm ở phía Bắc của ga Osaka bởi xe lửa JR. 

Thành phố Osaka được phục vụ bởi 7 tuyến đường sắt khác nhau và các công ty xe điện ngầm. Hầu hết các khách nước ngoài của Osaka là đi đến bằng đường xe điện ngầm và các đường được điều hành bởi JR West.

Đường sắt Nankai cung cấp các dịch vụ từ Namba đến Osaka, sân bay Kansai, Wakayama và núi Koya.
Đường sắt Hankyu kết nối ga Umeda với phía Bắc Osaka, Kobe và Kyoto. 

Đường sắt Kintetsu kết nối Osaka với nhiều điểm du lịch ở phía Nam khu vực Kinki, bao gồm Nara, Kyoto, Yoshino, Ise và Nagoya. 

Đường sắt Hanshin kết nối Osaka với Kobe. Những tuyến bắt đầu từ Umeda và ga Nishikujo. 

Đường sắt Keihan kết nối trung tâm Osaka với trung tâm Kyoto. Tuyến đường bắt đầu từ ga Yodoyabashi. 

Để khám phá đảo Osaka từ các địa điểm ở trung tâm thành phố, du khách nên dùng tàu điện ngầm. Hệ thống tàu điện ngầm có khoảng 6-7 tuyến (được nhận diện bằng các màu sắc khác nhau) lan tỏa đi khắp thành phố. Còn để đi đến những địa điểm ngoại ô khác, bạn nên dùng tàu điện JR (Japan Railway) hoặc các loại tàu điện khác như Kintetsu. Mỗi vé tàu có giá trị trong một ngày, với một tấm bản đồ thành phố và bản đồ các tuyến đường tàu điện ngầm, du khách có thể khám phá Osaka một cách tiết kiệm nhất. 

Đi khi nào?

Nếu bạn là du khách đến thăm thành phố Osaka (Nhật Bản), hãy đi vào dịp cuối tháng ba, đầu tháng tư vì đây là thời điểm tốt nhất để du khách có thể cảm nhận được hết vẻ đẹp của Osaka không giống với hầu hết các thành phố khác ở Nhật. 

Mua sắm, giá cả

Giá vé xe lửa từ Tokyo đến Osaka là 13,240 yên không có chỗ dành riêng cho bất kỳ xe lửa nào, khoảng 13,500 yên cho chỗ dành riêng trên xe lửa Kodama hay Hikari và khoảng 13,800 yên cho chỗ dành riêng trên xe lửa Nozomi.

Giá vé xe lửa từ Tokyo đến Osaka dành riêng cho chỗ ngồi trên xe lửa Hikari là 12,000 yên.

Giá vé từ Tokyo đến Shin –Osaka dành riêng cho chỗ ngồi trên xe lửa Kodama là 10,000 yên và sẽ nhận được thức uống miễn phí. 

Nếu du lịch trọn gói bao gồm chuyến du lịch từ Osaka đếnTokyo bằng xe lửa Hikari và một đêm ở tại khách sạn Tokyo thì mất khoảng 22,500 yên một người. 

Tương tự, các kế hoạch miễn phí ở Osaka 2 ngày cho khách du lịch thăm Osaka như một chuyến đi từ Tokyo là 23,100 yên. 

Nếu đi xe lửa từ Tokyo đến Osaka giá vé khá đắt, khoảng 8510 yên, tuy nhiên với một Seishun 18 Kippu bạn có thể làm một chuyến đi là 2300 yên.

Giá vé xe bus như 123 Bus, bắt đầu khoảng 5000 yên. Các chuyến xe bus thoải mái hơn chi phí khoảng 8500 yên. 

Giá vé máy bay từ Tokyo đến Osaka là khoảng 19000 yên, tuy nhiên, nhiều du khách phải trả hơn 13000 yên nhờ vào các chương trình giảm giá cho các chuyến bay nội địa. 

Nếu có cơ hội đến Nhật Bản đừng bỏ qua thành phố OSAKA tuyệt vời này nhé các bạn. 

 

 

Vào bếp với món bánh “xèo” Nhật Bản

Okonomiyaki là một loại bánh đặc trưng và cổ truyền của người Nhật, một món bánh vốn chứa rất nhiều nguyên liệu đa dạng. Tên Okonomiyaki vốn có nguồn gốc từ 2 từ: Okonomi, có nghĩa là “những gì bạn thích” và yaki, nghĩa là “nướng” hoặc “nấu chín”.

Okonomiyakia được biết đến rộng rãi tại vùng Kansai và Hiroshima ở Nhật. Ở Kansai, đế bánh được trộn nhiều nguyên liệu như: bột, khoai lang nghiền, nước dashi, trứng và bắp cải thái lát, hành lát, thịt hoặc bạch tuộc, tôm và các thành phần khác như: kim chi, nếp mochi (một loại nếp Nhật) hoặc phô mai.

Sau khi đã trộn lẫn nguyên liệu, các đầu bếp tại nhà hàng vùng Kansai sẽ nướng bánh vàng đều hai mặt trên một chiếc bàn nướng gọi là teppan.

Tại Osaka, thành phố lớn của vùng Kansai, bánh trước khi được thưởng thức, sẽ được phủ loại xốt mayonnaise, nhấn nhá thêm chút gừng ngâm hoặc tảo biển hay cá ngừ bào thành miếng, góp phần làm cho hương vị bánh đặc biệt thêm.

Cách làm món bánh Okonomiyakia ở các nhà hàng tại Hiroshima có hơi khác một chút so với vùng Kansai. Thay vì trộn lẫn các nguyên liệu với nhau, món bánh này thường được xếp thành từng lớp. Các lớp thường được xếp lần lượt như: bột, bắp cải, thịt heo hoặc bất cứ loại nguyên liệu nào tùy theo phong cách nhà hàng như: bạch tuộc, mực, tôm, phô mai…

Sau đây chúng ta hãy cùng tự làm món Okonomiyakia và thưởng thức nó nhé các bạn

Nguyên liệu chuẩn bị : 

- 300g mực

- 300g tôm. 

- 400g bắp cải 

- 200g ớt chuông. 

- 2 quả trứng gà. 

- 100g bột mỳ. 

- 1 thìa súp bột cá. 

- 10g cá ngừ bào khô. 

- hạt nêm, dầu ăn. 

- Sốt Tonkatsu, Mayonnaise, tương ớt ăn kèm. 

Cách làm 

Mực làm sạch, xắt sợi. Tôm vỏ bóc nõn , chẻ lưng lấy đường chỉ đen, xắt lát mỏng. 

Cho lượng nước vừa đủ vào nồi cơm điện, nấu sôi, nấu sôi. Cho mực tôm vào chần qua, vớt ra trụng qua nước lạnh cho giòn, để ráo. 

Bắp cải rửa sạch, bào sợi mỏng. Ớt chuông lạng bỏ hạt, rửa sạch, bào mỏng.  Trứng gà tách bỏ vỏ. 

Đánh đều bột mỳ với một lượng nước vừa đủ tạo hỗn hợp sệt, cho tôm, mực, bắp cải, ớt chuông, bột cá, hạt nêm, trứng gà vào trộn đều.

Làm nóng dầu ăn, múc một lượng vừa đủ cho vào chảo, dàn đều thành hình tròn. Nhỏ lửa rán vàng 2 mặt. 

Lấy bánh ra cho nước sốt Tonkatsu, Mayonnaise. Ăn nóng kèm tương ớt. 

 

 

 

Nghệ thuật trà đạo Nhật Bản

Trong văn hóa Nhật Bản trà đạo là một nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét truyền thống của đất nước này. Đây cũng là đề tài yêu thích của rất nhiều nhà nghiên cứu về đất nước này. 

Lịch sử trà đạo Nhật Bản

Trà đạo được xem như là một điển hình văn hóa cổ xưa của Nhật Bản, được phát triển từ khoảng cuối thế kỷ XII. Theo truyền thuyết Nhật, ngày đó có vị cao tăng người Nhật là Eisai (1141-1215) đi du học và mang về từ Trung Quốc một loại bột trà xanh được gọi là matcha. Lúc đầu matcha chỉ được dùng như một loại thuốc nhưng sau đó trở thành một thức uống xa hoa mà chỉ giới thượng lưu mới được sử dụng và thưởng thức trong các buổi họp mặt. Thời gian này, một số quy tắc của một buổi tiệc trà đã được quy định bởi giới võ sĩ (samurai), giai cấp thống trị xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ. Nhà sư Sen no Rikyu (1522-1591), một trong những thương gia giàu có nhất thời đó đã kế thừa, sáng lập và hoàn thiện lễ nghi của một buổi tiệc trà. Đến cuối thời Edo (1603-1868) thưởng thức trà đạo là đặc quyền của nam giới. Cho đến đầu thời Meiji (1868-1912) thì phụ nữ mới chính thức được tham dự tiệc trà. Từ đó, công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với thú uống trà. Và họ đã kết hợp uống trà với tinh thần thiền của phật giáo nhằm nâng cao nghệ thuật thưởng thức trà. 

Nghệ thuật trà đạo Nhật Bản

Từ uống trà đến trà đạo là quá trình không ngừng nghỉ của người Nhật nhằm biến tục uống trà du nhập từ nước ngoài trở thành một nghệ thuật sống của chính dân tộc mình. Không đơn giản chỉ là những phép tắc uống trà mà qua đó người Nhật còn mong muốn hòa vào thiên nhiên, làm sạch tâm hồn , tu tâm dưỡng tính theo đúng tinh thần phật giáo. 

Bốn nguyên tắc cơ bản trong trà đạo : Hòa – kính – Thanh – Tịch. “Hòa” có nghĩa là sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, sự hòa hợp giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà. “Kính” là lòng kính trọng, sự tôn kính đối với người khác, thể hiện sự tri ân cuộc sống. Khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh, thể hiện sự thanh tịnh, đó chính là ý nghĩa của chữ “thanh”. “Tịch” có nghĩa là sự vắng lặng, tĩnh lặng mang đến cho con người giảm giác yên tĩnh, vắng vẻ.

Nghệ thuật uống trà (trà đạo) của Nhật bao gồm các bước sau : 

Bước 1: Nước pha trà

Nước pha trà thường được giữ ở 800C – 900C  và thường được đựng trong một bình thủy hoặc được nấu trong một cái ấm kim khí không nắp trên bồn than yếu.

Không bao giờ dùng nước đang sôi để pha trà. 

nghệ thuật trà đạo nhật bản

Bước 2: Làm ấm dụng cụ

Ấm pha trà và tách uống trà được tráng bằng nước sôi để làm ấm dụng cụ. Sau đó dùng khăn lau khô trước khi sử dụng. Sau đó cho trà vào ấm. Vì trà của Nhật là trà bột nên thường mỗi người khách là một muỗng café trà xanh (trừ trường hợp người nghiện và muốn uống trà đậm thì cho nhiều hơn). 

nghệ thuật trà đạo nhật bản - làm ấm dụng cụ

Bước 3 : Pha trà

Thường trà sẽ được pha thành 3 lần khác nhau như sau : 

Lần thứ nhất: Pha với nước nóng ở 600C, để trà ngấm trong 2 phút rồi rót ra mời khách. Để giảm nhiệt độ của trà, thường nước sôi sẽ được rót ra một bình trà khác (hay chén tống). 

Lần thứ hai: Pha với nước nóng ở 800C trong khoảng 30 – 40 giây. Nghĩa là cho nước vào ấm trà, hơi lắc nhẹ và rót ra tách cho khách ngay. Nước pha trà cũng được rót qua bình trung gian nhằm điều chỉnh nhiệt độ. 

Lần thứ ba: Pha trà ở nhiệt độ 900C khoảng 30 – 40 giây. Nước có thể rót trực tiếp từ bình thủy vào bình trà.

Với những loại trà ngon, thượng hạng có thể pha thêm lần 4,5. Tuy nhiên, loại trà thường chỉ pha đến lần thứ 3 thôi. 

Bước 4: Cách rót trà

Các tách trà được để trong khay trà và rót theo thứ tự 1,2,3,4. Loại tách cỡ lớn tầm 70ml, lần đầu rót vào 30ml, sau đó tiếp tục với thứ tự ngược lại 4,3,2,1 mỗi lần 20ml. Tổng cộng tách trà rót là 50ml. Không được rót đầy trà cho khách một lần đầy tách rồi rót tiếp cho người kế tiếp. Làm như vậy sẽ có sự khác biệt về độ đậm nhạt của trà. 

Bước 5: Cách uống trà

Khi uống trà xanh Nhật Bản, người Nhật phải ăn một vài loại bánh ngọt để gia tăng hương vị của trà. Trước khi uống, sẽ ăn vài miếng bánh ( Phải ăn hết bánh trong miệng mới uống trà, không nên vừa ăn vừa uống). Sau đó thỉnh thoảng ăn thêm bánh và uống trà tiếp theo. 

 

 

Shizuoka – mảnh đất yên bình của núi Phú Sỹ

Biểu tượng nổi tiếng của Nhật Bản cũng chính là thắng cảnh nổi tiếng nhất của vùng đất Shizuoka không gì khác chính là ngọn núi Phú Sỹ.


Shizuoka là một tỉnh nằm ở vùng Chubu trên đảo Honshu. Nằm giữa thủ đô Tokyo và Nogoya, cách Tokyo 1,5 giờ đi tàu điện (Shinkasen). Trái ngược với sự tấp nập của thủ đô là một cuộc sống chậm, ngưng đọng thời gian của vùng đất núi. 

Shizuoka là vùng đất nổi tiếng với chè xanh, cam Navel và củ cải Wasabi. Bên cạnh đó , biểu tượng của đất nước mặt trời mọc : Núi Phú Sỹ cũng là thắng cảnh du lịch nổi tiếng của vùng đất này. 

Shizuoka - Núi Phú Sỹ biểu tượng Nhật Bản

Shizuoka – Núi Phú Sỹ biểu tượng Nhật Bản 


Fuji (Núi Phú Sĩ) là ngọn núi lửa cao nhất Nhật Bản (3776m) với hình chóp nón hùng vĩ. Ngọn núi lửa này đã phun trào ít nhất 10 lần kể từ thế kỷ 18 và 300 năm đã trôi qua kể từ lần phun trào gần nhất của nó năm 1707. Diện tích của núi là 90,76 km2,  miệng núi lửa rộng khoảng 500m, sâu 200m. Hiện nay, Phú Sĩ là ngọn núi lửa chết, tuy nhiên vẫn luôn có tin đồn về khả năng hoạt động trở lại. 

Shizuoka - Núi phú sỹ biểu tượng Nhật bản

Núi Phú Sỹ thắng cảnh du lịch của Shizuoka 

Theo tín ngưỡng của người Nhật : Thứ nhất Fuji, thứ nhì Naka, thứ ba Nasu nghĩa là đêm mông một tết, may mắn nhất dành cho những người nằm mơ thứ nhất thấy núi Phú Sĩ, thứ nhì là chim ưng thứ ba là cà tím. Đây đã trở thành ngọn núi thiêng che chở cho nước Nhật, đem lại sự tốt lành may mắn.

Ngoài ra, Shizuoka còn nổi tiếng với cây cầu Horai – được kỷ lục Guiness ghi nhận là cây cầu gỗ dài nhất thế giới. Cầu cầu được xây dựng vào năm 1879, dài 897m.

Shizuoka- cầu gỗ Horai

Cầu gỗ Horai – địa danh du lịch của Shizuoka

Ở Shizuoka, những ngôi nhà ngói đỏ nằm ẩn hiện giữa những khu vườn rộng được bao quanh là hàng rào gỗ , hàng dâm bụt thấp đến ngnag thắt lưng, đủ để ôm quanh ngôi nhà nhưng không che khuât tầm mắt, và nhà nào cũng có những cánh cổng gỗ treo biển ghi tên chủ nhà. Các bạn thực tập sinh Việt Nam đến vùng Shizuoka sẽ cảm thấy rất thân thuộc vì vẫn nghe được tiếng dế kêu sau mưa, tiếng gà gáy sáng, khí hậu ôn hòa mát mẻ và đầy thanh bình. 

 

 

 

Nagano – Nóc nhà Nhật Bản

Nagano (Nhật: 長野県 Nagano-ken, Trường Dã) là một tỉnh của Nhật Bản, thuộc vùng Chūbu, trên đảo Honshū. Sỡ dĩ được gọi là nóc nhà của Nhật Bản, là do từ trên cao nhìn xuống bán đảo Nhật Bản, ở trung tâm có nhiều ngọn núi cao mà đa số các ngọn trên 3000m.

Khí hậu tỉnh Nagano chịu ảnh hưởng lớn bởi các ngọn núi Alp. Nếu không có những ngọn núi cao đó, khí hậu của Nagano ấm hơn nhiều. Nagano là nơi tuyết rơi nhiều nhất ở Nhật Bản. Khi mùa đông đến, luồng không khí lạnh từ Xibêri thổi qua biển Nhật Bản đã biến hơi nước thành tuyết và rơi xuống Nagano. 

Nagano có vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời. Vào mùa hè, nhiệt độ lên tới 350C trong khi nhiệt độ vào những buổi sáng sớm hoặc đêm mùa đông lạnh giá có thể giảm xuống tới âm 20C. Sự chênh lệch lớn về nhiệt độ đó đã tạo ra những thay đổi đối với môi trường thiên nhiên xung quanh theo từng mùa. Mùa xuân mang đến vẻ đẹp của hoa anh đào và hoa táo, chim hót líu lo, còn mùa hè có những làn gió mát thổi từ cao nguyên cùng những rặng thông nên thơ. Vào mùaa thu, vẻ đẹp của các ngọn núi càng được tôn lên nhờ cảnh lá đỏ rực rỡ, trong khi mùa đông mang đến niềm vui được trượt tuyết xuống những sườn núi. 

Nhờ nhiệt độ mát mẻ trên cao nguyên vào mùa hè và tuyết vào mùa đông, Nagano được phát triển thành một khu nghỉ bao gồm những địa điểm tắm suối nước nóng và khu trượt tuyết, gần với 3 thành phố lớn của Nhật là Tokyo, Osaka và Nagoya.

 Hàng năm có khoảng 100 triệu du khách tới Nagano. Tỉnh này không chỉ là một trung tâm sản xuất rau quả lớn mà còn là một trung tâm công nghiệp về máy điện tử, máy chính xác và lương thực. 

Trượt băng và trượt tuyết là những môn thể thao phổ biến đối với người dân Nagano từ thời Thế chiến 2, và hiện tại đang là môn thể thao thu hút du khách đến với vùng này.

Ngoài ra, Nagano còn thu hút du khách nhờ các điểm du lịch như :  Đền Suwa Taisha ,Thành Matsumoto,Chùa Zenkō Hồ Kizaki, Hồ Suwa, Núi Kirigamine. Sau đây là một số hình ảnh về điểm du lịch của tỉnh Nagono : 

đền Suwa Taisha tỉnh Nagono Nhật Bản

Đền Suwa – Taisha

 

 

 

Nghệ thuật Tanbo: Khi người nông dân là nghệ nhân

Ra đời năm 1993 tại ngôi làng nakadate ở tỉnh Aomori – Nhật Bản  với mục đích cải thiện nền kinh tế địa phương. Đến nay, những bức tranh nghệ thuật trên đồng ruộng của vùng quê này đã thu hút một lượng lớn du khách tham quan hàng năm. 

Mục đích của việc hình thành nên nghệ thuật Tanbo: 

Nhằm tôn vinh truyền thống lịch sử biết ơn lúa gạo, người dân đã quyết định tạo ra một bức tranh trên cánh đồng lúa phía sau tòa thị chính. Còn đối với người dân vùng Amori, họ chỉ mong muốn tạo ra những điều tốt đẹp để mang lại sức sống cho ngôi làng nhỏ bé với hơn 8.700 hộ dân mà nghề nghiệp chính là trồng lúa. 

Làm thế nào để tạo ra những bức tranh nghệ thuật trên đồng ruộng? 

Theo thông lệ, vào tháng 4 hàng năm, dân làng sẽ họp để lên kế hoạch trồng lúa. Đến tháng 5 việc gieo hạt bắt đầu được tiến hành. Những hình vẽ sẽ được thiết kế trên máy vi tính tương ứng với diện tích các thửa ruộng. Những chiếc khuôn sẽ được tạo và đem ra đồng ướm vào những vị trí cần gieo hạt.

Có bốn màu sắc chính là xanh, vàng, trắng, tím than, được tạo nên từ 4 giống lúa khác nhau. Ngoài ra còn có cả màu nâu, màu đỏ…


Bắt đầu vụ mùa, những họa sĩ nông dân sẽ trồng mạ trên cánh đồng trống. Chủ đề của các bức tranh lúa thường là các tranh vẽ, họa tiết truyền thống Nhật Bản, nhưng cũng có khi là các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, văn hóa thế giới… Công việc này yêu cầu sự tỉ mỉ, độ chính xác và cần mẫn để có thể gieo trồng và chắc chắn đúng theo những mẫu vẽ mà họ đã hình dung từ trước. 


Thời gian của mỗi giống lúa là khác nhau, chính vì thế còn phải cần tính toán cẩn thận để chắc chắn các giống lúa này phát triển cao ngang nhau. 

Thời điểm tốt nhất để thưởng thức những tác phẩm Tanbo là tháng 9, mùa lúa chín ở Nhật Bản. Nhiều tháp cao đã được dựng lên để phục vụ nhu cầu của du khách.

Ngày nay, không chỉ có mỗi ngôi làng Inakadate mà còn nhiều ngôi làng khác cũng bắt đầu áp dụng nghệ thuật Tanbo như: Yonezama, Yamagata…Và hàng năm thu hút rất nhiều lượt khách du lịch đến với vùng quê này. 

 

 

Ẩm thực quái dị của người Nhật

Nhật Bản được biết đến với rất nhiều món ăn ngon rất hấp dẫn như :sushi, tempura….Tuy nhiên, người Nhật cũng có rất nhiều món ăn mà không phải ai cũng ăn được. Hãy cùng TMS tìm hiểu về ẩm thực quái dị của người dân đất nước này nhé. 

Natto (Đậu nành lên men)

Natto là món rất nặng mùi, hương vị nồng và quánh được làm từ đậu nành lên men. Natto được người Nhật Bản dùng phổ biến trong các bữa sáng cùng với cơm trắng và canh miso.

Để cho dễ hình dung, có thể ví mùi nồng của Natto như mùi mắm tôm của Việt Nam vậy. Trên bề mặt của Natto bao phủ những sợi nhớt, tơ như màng nhện. Người ta đánh giá chất lượng Nattou qua độ dài của sợi nhớt. Nếu khi lấy đũa gắp một miếng lên khỏi chén mà sợi nhớt càng dài thì natto càng ngon.

TMS Natto đậu phộng thối Nhật Bản

Natto – đậu phộng thối 

Người ta chọn các hạt đậu tương nhỏ, ngâm nước trong vòng một ngày cho mềm ra, đem luộc thật chín, để lên men. Cách làm cổ truyền là gói đậu tương đã xử lý như trên vào các túm rơm để làm lên men đậu tương. Ngày nay, người ta sử dụng một thứ men gọi là kosokin để bắt đầu quá trình lên men khoảng 24 giờ trong môi trường nhiệt độ chừng 40 độ C.
 
Hachinoko (Ấu trùng ong)

Hachinoko, món ấu trùng ong, đặc biệt được ưa thích khi nhâm nhi cùng ly bia. Ấu trùng được chiên giòn với nước tương và đường. Khi ăn có vị ngọt thanh.

Ấu trùng ong ( hachinoko)

Hachinoko có một bề dày lịch sử và từng là cao lương mỹ vị cho vua chúa. Một trong những món ăn ưa thích của vị thiên hoàng Hirohito là ấu trùng ong bắp cày nấu với gạo, đường và nước tương. Theo thời gian, hachinoko được phổ biến rộng rãi hơn và trở thành món ăn giàu protein khá quen thuộc ở Nhật.

Zazamushi (Côn trùng thủy sinh)

Một đặc sản khác nổi tiếng ở Nhật Bản là zazamushi, được chế biến từ côn trùng thủy sinh. Bạn có thể tìm mua zazamushi ở siêu thị dưới dạng đóng gói sẵn, hoặc gọi zazamushi tươi ở các nhà hàng.
 

Zazamushi không chỉ được chế biến một loại côn trùng duy nhất, mà sử dụng chung cho những côn trùng thủy sinh sống ở dưới đáy sông hồ. Tên gọi zazamushi nghĩa là côn trùng. Những năm gần đây, người Nhật còn sáng tạo loại sushi kết hợp với côn trùng sống, đây cũng là một dạng chế biến khác của zazamushi.

Fugu (cá độc)

Fugu trong tiếng Nhật là tên gọi cho loài cá nóc có độc, đồng thời là món ăn khiến nhiều người Nhật mê mệt. Vị ngon của fugu sánh ngang bằng với độ nguy hiểm của nó, bởi lẽ phần da và nội tạng của cá nóc fugu có chứa độc.


Tại Nhật Bản, người ta từng tranh cãi rất nhiều về món fugu vì nguy hiểm mà nó đem lại. Chỉ có những đầu bếp có bằng cấp chuyên nghiệp mới biết cách làm cá fugu. Họ phải trải qua 2 hoặc 3 năm trong nghề, và vượt rào kỳ thi quốc gia mới được phép làm món sushi cá nóc fugu.

Thịt cá nóc fugu được thái mỏng và xếp trên đĩa theo kiểu nghệ thuật cắm hoa Ikebana. Fugu ăn kèm với những gia vị như nước chấm làm từ dầu mè, nước tương, wasabi, củ cải muối, giấm ponzu, chanh, ớt và phải có rượu nồng Sake hâm nóng để bớt đi vị tanh của thị cá.

Được biết, các bộ phận như da, gan và buồng trứng của cá nóc fugu chứa một lượng chất độc tetrodoxin có thể gây chết người. Nếu ăn phải một trong những thành phần này, chất độc sẽ làm tê liệt các cơ bắp trong khi nạn nhân vẫn rất tỉnh táo. Cuối cùng, người nhiễm độc cá nóc sẽ chết vì ngạt thở.

Shirako (Bộ phận sinh dục cá)

Shirako là bộ phận sinh dục của cá đực. Món Shirako được chế biến cùng với các túi tinh dịch của cá. Ở Nhật Bản, người ta thường dùng shirako của cá nóc hay cá tuyết. Đến bất kỳ quán sushi bar hay izakaya (quán ăn kiểu Nhật Bản), các ấy đều có thể gọi món Shirako.

Tuy nhiên, theo nhận xét của nhiều người, shirako không phải là món dễ ăn. Mùi vị của nó khá nồng. Hơn nữa, người Nhật Bản lại thích ăn shirako còn sống.

Inago no Tsukudani (Món ăn từ châu chấu)

Inago no Tsukudani là một trong những món ăn truyền thống từ côn trùng của người Nhật Bản, rất phổ biến ở những vùng nông thôn như Yamagata, Nagano và quận Gunma (thuộc đảo Honshu).

“Inago” trong tiếng Nhật có nghĩa là châu chấu. Inago là món ưa thích của người Nhật Bản, thậm chí đối với cả trẻ em. Người ta thường dùng Inago với cơm trắng. Châu chấu trước khi đưa vào chế biến phải để qua đêm, giúp chúng tiêu hóa hết thức ăn trong dạ dày. Như vậy, nguyên liệu trở nên sạch sẽ hơn.

 

Sau đó, chúng được luộc trong nước sôi khoảng 3 tới 4 phút, rồi đem để nguội, phơi khô trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời trong 1 hoặc 2 ngày. Bước tiếp theo, châu chấu được nấu chung với tsukudani (một loại nước xốt Nhật Bản thường được làm bằng cỏ biển, nước tương) và đường. Như vậy là bạn đã có được món Inago no Tsukudani ngon lành.

Shiokara (Hải sản lên men)

Shiokara là món hải sản lên men của người Nhật. Shiokara bao gồm hải sản sống, trộn với 10% muối và 30% bột gạo và được ủ trong hộp kín khoảng một tháng. Shiokara có nhiều loại nhưng người Nhật thích nhất vẫn là “Shiokara mực nang”.
 


Món shiokara có đặc trưng thay đổi vị theo thời gian. Ban đầu, hải sản lên mên sẽ khá mặn, nhưng độ mặn sẽ giảm dần theo thời gian và vẫn giữ được hương vị thơm của món ăn. Shiokara thường ăn kèm với cơm trắng.

Shirouo no Odorigui

Những con cá nhỏ xíu trong suốt này có tên là Shirouo và các ấy có ăn sống. Điều thú vị của món Shirouo no odorigui là khi bạn ăn, những chú cá sẽ nhảy hoặc ngó ngoáy trong miệng. Cảm giác rất thú vị.
 

Thông thường, cá shirouno sẽ được thả vào một cốc giấm, người thưởng thức sẽ uống cả hỗn hợp này.

 

Kimono – Trang phục truyền thống Nhật Bản

Kimono nghĩa là trang phục, tuy nhiên cùng với thời gian và sự thay đổi nó đã trở thành tên riêng cho loạitrang phục truyền thống mà khi nhắc đến đất nước Nhật Bản không ai là không biết đến. 

Kimono là một niềm tự hào, trở thành một biểu tượng  không thể thiếu của đất nước mặt trời mọc

Kimono nghĩa là trang phục nói chung, tuy nhiên, cùng với thời gian với nhiều thay đổi đã trở thành tên gọi riêng của bộ trang phục độc đáo này. 

Nguyên liệu tạo ra Kimono

Theo truyền thống áo Kimono được may từ các loại vải dệt  từ các nguyên liệu tự nhiên như : Vải lanh, vải bông, vải lụa. Riêng Kimono mùa hè (yukata) được làm bằng vải cotton.

 

Kimono có màu đưcọ tạo thành dựa trên 2 cách: 

- Được dệt từ các sợi chỉ có màu sắc khác nhau: Điển hình là Oshima-tsumugi được dệt trên đảo Amami-Oshima phía nam Kyushu. Đây là loại vải khỏe bóng.  Ngoài ra còn phải kể đến Yuki-tsumugi , nó bền đến mức có thể tồn tại 300 năm.

- Vải dệt được nhuộm màu: Với nền vải dệt màu trắng, sau đó được vẽ hay thêu họa tiết lên đó tạo nên những loại vải đầy màu sắc. Điển hình như Kyo-yuzen được làm ra tại thủ phủ cũ Kyoto và được nhận biết dựa vào sự tỉ mỉ và màu sắc phóng khoáng. 

Các loại Kimono 

Kimono  được tạo thành từ một miếng vải dài 12-13m, rộng 36 – 40cm được cắt thành 8 mảnh. Những mảnh này được khâu lại với nhau để tạo ra hình dáng cơ bản của kimono. Tất cả vải đều phải được dung và không có phần nào vứt đi. 

Có 7 loại Kimono chủ yếu sau:

- Furisode:  Là loại áo chỉ dành riêng cho những cô gái chưa có chồng. Tay áo rất dài và rộng (thường dài từ 95 đến 115 cm). Thời xưa, các cô gái thường vẫy vẫy ống tay áo để bày tỏ tình yêu với các chàng trai.

 Khi một cô gái Nhật Bản bước sang tuổi 20, cô ấy sẽ được công nhận là một người trưởng thành và sẽ được phép làm nhiều thứ đồng thời chịu trách nhiệm cho những gì cô ta làm. Chính vì thế nhiều gia đình ở Nhật chọn mua Furisode cho con gái họ để kỷ niệm bước ngoặt này. 

 

Trong xã hội của Nhật, mặc Furisode là một tuyên bố rõ ràng rằng đó là một cô gái độc thân đã sẵn sàng để kết hôn.

Furisode dùng để mặc trong những ngày lễ lớn, như khi đi dự đám cưới hay dự một buổi tiệc trà. Giá của một chiếc Furisode tùy thuộc vào chất liệu vải, kiểu dáng và tay nghề của người may. Một chiếc Furisode thường có giá là 15.000 USD.

- Yukata:  Loại này xuất hiện rất nhiều tại Việt Nam và bây giờ thì đang trở thành một phục trang thường gặp, đặc biệt là trong các lễ hội truyện tranh hoạt hình. Là một loại Kimono làm bằng cotton bình thường, dùng để mặc trong mùa hè. Yukata thường mang màu sắc cực kì sáng. Cách thiết kế đơn giản của Yukata là để các cô gái Nhật có thể mặc mà không cần sự giúp đỡ (sau vài lần tập là họ có thể dễ dàng mặc được, bởi Yukata không cầu kì như Furisode).

 

kimono-yukata

- Houmongi: Khi một người phụ nữ Nhật Bản kết hôn, cha mẹ thường mua cho con gái họ một chiếc Kimono khác, chiếc Houmongi. Houmongi sẽ thay thế vị trí của Furisode. Houmongi là Kimono đi lễ của những người phụ nữ đã có chồng. Loại Kimono này thường được dùng trong khi đi tham dự một đám cưới hay tiệc trà nào đó. Khi đón tiếp một cuộc viếng thăm trang trọng, người phụ nữ sẽ mặc áo Homongi (áo Kimono dùng để tiếp khách).

 

- Tomesode: Với những người phụ nữ đã kết hôn, họ sẽ không bao giờ được măc áo furisode, dù cho họ có li dị chồng đi chăng nữa. Thay vào đó, họ sẽ mặc áo Tomesode, một dạng áo Kimono với ống tay áo ngắn hơn. Áo Tomesode thường có màu đen, hoặc là nhiều màu khác . Áo Tomesode đen thường được đính gia huy tượng trưng cho họ tộc, đây là dạng áo Kimono chỉ mặc vào các dịp lễ trang trọng (như là đám cưới hoặc đám tang của họ hàng).

 

Tomesode kimono

- Mofuku: Chỉ được dùng để đi dự đám tang của họ hàng gần. Toàn bộ chiếc Kimono loại này có màu đen. Dù rằng Tomesode và Mofuku không đắt bằng một chiếc Furisode, nhưng giá mỗi chiếc Tomesode hay Mofuku là khoảng 8.000 USD.

 

Mofuku kimono

- Shiromaku :  Ở đây, shiro nghĩa là màu trắng còn maku nghĩa là sự tinh khiết. Nó là từ thích hợp nhất để dành tặng những cô gái trong ngày lễ trọng đại nhất của đời mình: ngày vu quy.

 

Một cô gái Nhật làm đám cưới theo truyền thống thì sẽ mặc loại Kimono rực rỡ, tráng lệ nhất. Loại Kimono này được gọi là Shiromaku. Đa số mọi người chỉ thuê loại Kimono này bởi nó chỉ được sử dụng trong một ngày, tuy nhiên, giá cho thuê của một chiếc Shiromaku cũng lên tới 5.000 USD.

- Tsumugi:  Dành cho những ngưuời nông dân và thường dân. Áo này được trang trí theo dạng hoa văn chạy dọc theo thân và lưng áo rồi gắp nhau ở đỉnh vai. Được mặc vào các buổi tiệc tùng trà đạo, cắm hoa và đám cưới của bạn bè.

 

Phụ kiện đi kèm với kimono

 Thắt lưng (Obi): Một cái obi dành cho kimono phụ nữ thường có chiều dài khoảng 4m và chiều rộng khoảng 60cm.Obi được quấn 2 vòng quanh thắt lưng và thắt ở phía sau lưng. Các phụ kiện kèm theo obi:

a. Koshi-himo Koshi-himo là vòng dây đầu tiên quấn quanh thắt lưng.Nó được làm từ những sợi tơ nhuộm màu rồi bện lại như dây thừng.

b. Date-jime là sợi dây thứ hai buộc quanh áo kimono,phủ lên trên sợi dây koshihimo.

c. Obijime Là sợi dây thừng buộc phía trên bề mặt của obi,nó có nhiều màu sắc khác nhau và màu được chọn thường làm nổi bật chiếc obi.

d. Chocho: Nơ bướm Chocho là chiếc nơ được gắn ở đằng sau obi, nhìn thì nó có cấu tạo phức tạp nhưng thực chất rất dễ mang.Chocho gồm hai phần bản rộng và phần nơ. Phần bản rộng có chiều dài 5 feet, chiều rộng là 6 inch, nó được quấn hai vòng quanh thắt lưng rồi được nhét vào phía trong. Phần nơ có một cái móc gắn để gắn vào vào obi.

Kaku và Heko bi dành cho kimono của nam. Kaku là obi dành cho các bộ kimono nam thông thường, đươc maybằng vải cotton,có chiều dài là 3,5 inch. Heko là obi mềm được dành cho các bộ yutaka.

thắt lưng obi

Taiko-musubi: Một dạng thắt lưng khác, được phát minh từ thời Edo, cũng được sử dụng như obi và rất được ưa chuộng.

Dây cài lưng: Vào thời đại Meiji, người Nhật chế tạo ra một vật gọi là dây cài lưng ( obi-jime và obi-age).

Việc sử dụng những dây cài này với nhiều loại kiểu dáng và màu sắc khác nhau đã trở thành một cách để chứng tỏ gu thời trang của người Nhật.

Trâm cài đầu: Vật này dành riêng cho phụ nữ. Thời xưa, mỗi khi mặc áo kimono, phụ nữ Nhật thường điểm tô cho mái tóc của mình bằng những chiếc trâm này. Ngày nay, bạn có thể thay thế chiếc trâm bằng nơ, dây buộc tóc…

Guốc gỗ: Guốc gỗ được sử dụng rất phổ biến tại Nhật cách đây một thế kỉ, guốc của đàn ông thường to, có góc cạnh và thấp, guốc của phụ nữ thì ngược lại, tức là nhỏ nhắn và tròn. Thời xưa, người Nhật không đóng guốc mà họ “đẽo” guốc, tức là họ sử dụng những súc gỗ to để gọt đẽo thành đôi guốc mộc.

 

Guốc mộc Nhật bản

Cách mặc Kimono 

Mặc Kimono thường mặc juban – một loại áo  kimono lót để bảo vệ kimono khỏi dơ, sau đó cuốn bên phải vào trước, bên trái vào sau và thắt lại bằng thắt lung Obi làm bằng lụa. Nếu quấn bên trái trước nghĩa là sắp đi dự tang lễ. 

Việc mặc Kimono rất mất thời gian và thường một người không thể tự làm, vì thế cần phải có người giúp. 

https://www.youtube.com/watch?v=-jZiiiXVevA

Những loại búp bê truyền thống của Nhật Bản

Búp bê truyền thống Nhật Bản có tên gọi Ningyo, có nghĩa đen là hình nhân. Đây là nét văn hóa truyền thống đặc sặc của đất nước Nhật Bản. 

Búp bê Nhật Bản rất đa dạng về chủng loại. Chúng mang hình thù trẻ em, một số tượng trưng cho vua chúa, chiến binh, anh hùng, nhân vật cổ tích, thượng đế, đôi khi cả ma quỷ, thậm chí cả hình những con người bình dị trong cuộc sống đời thường ở các thành phố Nhật Bản. Rất nhiều loại búp bê có nguồn gốc cổ xưa, cho tới ngày nay chúng vẫn còn được chế tạo, dùng để đặt trong lăng mộ các gia đình, tặng quà nhân dịp lễ trọng và dành cho những lễ hội kỉ niệm như Hina Matsuri (lễ hội búp bê) hay Kodomo no Hi (Tết thiếu nhi). Nhiều loại búp bê được sản xuất ở các xưởng địa phương, được bày bán bởi các lữ khách như quà lưu niệm cho các chuyến viếng thăm chùa chiền và các chuyến du lịch khác.

Lịch sử sơ khai 

Búp bê Nhật Bản là sản phẩm tiếp nối của quá trình chế tạo Dogu, một dạng hình nhân, từ thời văn hóa Jomon cổ xưa ở Nhật Bản (800-200 trước Công nguyên) và lễ tang ma Haniwa của giai đoạn văn hóa Kofun (300-600 sau Công nguyên). Chuyên gia Alan Pate cho rằng những tài liệu của các đền đài, chùa chiền có ghi lại quá trình thực hiện các búp bê cỏ để tế thần và ném xuống sông ở Ise Shrine và có từ năm thứ 3 trước Công nguyên. Nghi lễ này có thể có từ trước đó, nhưng nó là khởi nguồn của lễ hội búp bê hiện đại hoặc Hinamatsuri.

Đầu thế kỉ thứ 11, khoảng thời kì đỉnh cao của giai đoạn Heian, một vài loại búp bê cũng được chế tạo, bằng chứng được tìm thấy trong cuốn tiểu thuyết The Tale of Genji (Câu chuyện của Genji) của Lady Murasaki. Các cô gái chơi với búp bê và những ngôi nhà búp bê, phụ nữ làm những búp bê cầu an cho bọn trẻ, búp bê được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, lấy đi những rủi ro, tội lỗi mà con người mắc phải.

Okiagari-koboshi là một loại búp bê béo tròn được làm từ giấy bồi, có từ thế kỉ thứ 14. Nó là vật mang lại may mắn, là biểu tượng của sự kiên trì bền gắn và khả năng hồi phục.

Có thể những người làm búp bê chuyên nghiệp đầu tiên là những thợ điêu khắc tại các chùa chiền, họ dùng kỹ năng tuyệt vời của mình để tạo ra những sản phẩm bằng gỗ sơn màu cho trẻ em (búp bê Saga).

Tên gọi Saga là một địa điểm gần Kyoto mà theo truyền thuyết do một viên chức cao cấp về hưu và đã làm những con búp bê này vào những năm cuối đời. Sự đặt tên này không có nghĩa những con búp bê này là một đặc sản của Saga; về sau, loại này được tạo tác và nâng cao giá trị ở Edo và sản sinh loại Edo-Saga. Nguồn gốc của những búp bê này lên tới năm 1600, đến mãi cuối thế kỷ XVll và đầu thế kỷ XVlll, kỹ thuật này mới phát triển thật sự.

Thời kỳ Edo

Suốt thời kì Edo (1603-1867), khi Nhật Bản vẫn còn xa rời các hoạt động giao thương, ở đây đã rất phát triển hai bộ phận người: những người chế tạo búp bê tài hoa và những người giàu có sẵn sàng chi những món tiền lớn cho những bộ búp bê đẹp đẽ và tinh xảo để trưng bày trong gia đình hoặc dùng làm quà tặng. Những bộ búp bê gồm 1 series những con búp bê lớn với độ tinh xảo tăng dần lên. Thương mại cạnh tranh cuối cùng đã được khuyến khích mở cửa bởi chính phủ, có nghĩa rằng những người thợ chế tác búp bê có thể bị bắt giữ hoặc trục xuất nếu vi phạm luật về chất liệu hay chiều cao.

Các loại búp bê Nhật Bản 

Búp Bê Hina: Là loại búp bê dành cho Hinamatsuri, lễ hội búp bê diễn ra vào ngày 3 tháng 3 hàng năm. Búp bê Hina có thể làm từ rất nhiều chất liệu nhưng búp bê Hina truyền thống có thân hình chóp tinh xảo, nhiều vải bọc quanh một khối hình làm bằng rơm hay gỗ, tay chạm gỗ có sơn gofun, đầu búp bê cũng được đẽo gỗ hoặc đúc khuôn và phủ sơn gofun, với cặp mắt trong (mặc dù trước năm 1850, mắt búp bê cũng được sơn hoặc phủ gofun), và tóc người hoặc tóc lụa. Một bộ đầy đủ thường có 15 búp bê, thể hiện đủ các tính cách, với các loại trang phục (dogu) mặc dù bộ cơ bản sẽ chỉ có một đôi búp bê nam-nữ, dùng để chỉ Nhật Hoàng và Hoàng Hậu.

- lsho-Nigyo(Búp bê phong tục): Là những búp bê có chủ đề phụ nữ, các thị thần, các thị đồng với những bộ kimono cắt may như y phục của những nhân vật quan trọng. Loại này chịu ảnh hưởng cái thế giới chung của Ukiyoe và có tên gọi khác là “búp bê phong tục”. Loại này được chia ra làm hai loại:

lsho Ningyo: bằng gỗ đẽo có sơn phết và mặc quần áo. Đây là loại búp bê có rất nhiều quần áo để thay đổi.

Kitsuke-Ningyo: loại búp bê có mặt và chân tay đẽo bằng gỗ và sơn bằng gofun, còn thân người thì giấu dưới bộ kimono làm bằng thanh gỗ hay giấy bồi dán quần áo lên.

Búp bê Kamo: Là những búp bê đẽo bằng gỗ mà quần áo thường làm bằng gấm, lụa .v.v. với mặt và tứ chi không sơn phết mà để nguyên màu gỗ tự nhiên. Búp bê Kamodo một thầy tu đền Kamo, Kyoto sáng tạo nên cách đây hai trăm năm. Nhờ vẻ mộc mạc, giản dị, thuần phác, loại này rất thịnh hành vào thời Tokugawa. Các búp bê này có đề tài phần lớn là những đứa trẻ trần truồng hay những con rối của sân khấu kịch Noh.

Búp bê Gosho: Theo tục lệ, những daimyo các địa phương phía tây thường tặng một món quà cho hoàng đế và các quan trong triều, khi họ đi qua Kyoto. Để trả lễ, hoàng đế hay các quan trong triều biếu lại họ một con búp bê bằng gỗ sơn gofun. Do đó có cái tên gọi là búp bê Gosho (tiếng Nhật có nghĩa là “hoàng cung”). Đặc điểm các búp bê loại này: đa số có đề tài là những đứa trẻ trần truồng, mặc dù cũng có cái mặc quần áo, thường là đầu to hơn người, với mặt mày rạng rỡ, với đôi mắt gắn thuỷ tinh nhỏ như mắt voi. Tỷ lệ ước định giữa đầu và thân là một phần hai, luôn luôn sơn trắng và bóng.

Búp bê bằng gỗ đẽo: Những con búp bê chúng ta vừa kể trên nói chung được đẽo bằng gỗ nhưng hoặc được phủ vải hoặc màu sơn gofun hay màu khác cho nên chất gỗ trở nên thứ yếu. Ngược lại, loại này làm nổi bật giá trị của gỗ đẽo, chúng cho thấy tài nghệ của nghệ nhân. Loại này thường có chủ đề là các nhân vật của sân khâu No hay của Bougaku, múa nghi lễ của triều đình.

Búp bê bằng đất nung: Là loại búp bê làm bằng đất nung có sơn màu. Nó có khắp nơi Nhật Bản. Nổi tiếng nhất là búp bê Fushimi gần Kyoto, búp bê Hakata, Kyoshu, Hananomaki, Tsutsumi và Koga phía Bắc. Loại này có rất nhiều đề tài

-  Các loại búp bê khác: Ngoài những loại búp bê kể trên ta còn có những búp bê làm bằng giấy bồi, bằng sứ, bằng kim loại bằng tre, bằng vải v.v.

Trong loại này có con được làm vào năm 1600 nhưng đa số là vào nửa cuối thế kỷ XVll. 

Các con búp bê có dây cót thuộc loại Karakun (búp bê máy trong đó có các loại búp bê của sân khấu rối Ayatsun (búp bê điều khiển)./.

 

 

Lễ hội đêm Chichibu tại Nhật Bản

Đây là lễ hội diễn ra vào dịp cuối năm tại Nhật Bản nổi tiếng với màn rước kiệu và bắn pháp hoa độc đáo.

Chichibu Yomatsuri là lễ hội của đền Chichibu ở thành phố Chichibu, tỉnh Saitama, Nhật Bản. Lễ hội được tổ chức vào ngày 2 và 3 tháng 12 hàng năm.


Đây là một trong ba lễ hội rước kiệu lớn nhất của Nhật Bản, hai lễ hội còn lại là Gion Matsuri và Takayama Matsuri của thành phố Kyoto. Những chiếc kiệu được trang trí lộng lẫy với những chiếc đèn lồng, khăn thêu cùng những chi tiết được chạm khắc gỗ mạ vàng, có kèm theo âm nhạc chơi bằng trống và sáo.

lễ hội đêm Chichibu


Trên đường phố trong những ngày này có rất nhiều quầy hàng bày bán các món ăn đặc trưng của lễ hội và amazake (rượu gạo ngọt), giúp du khách tham gia có thể chống chọi với cái lạnh giá của đêm tháng 12.

Những sự kiện chính của lễ hội đêm Chichibu sẽ diễn ra vào ngày 3/12. Vào buổi chiều và chập tối, 6 chiếc kiệu sẽ được đặt tại mỗi quận của thành phố và đền Chichibu, trước khi chúng được rước qua khắp các con phố vào khoảng 19h, hướng về phía tòa thị chính.


Những chiếc kiệu nối đuôi nhau tiến vào quảng trường tòa thị chính và xếp thành một hàng dài. Vào 19h30, màn bắn pháo hoa kéo dài gần hai tiếng rưỡi, có thể được nhìn thấy từ nhiều nơi xung quanh thành phố. Hoạt động chính của lễ hội kết thúc vào khoảng 22h, cho phép du khách dự hội có thể kịp bắt các chuyến tàu cuối cùng để trở lại thủ đô Tokyo, vì các lựa chọn về chỗ ở của thành phố Chichibu khá hạn chế.

Lưu ý

Vào thời gian diễn ra lễ hội, thành phố rất đông đúc, đặc biệt là dọc các tuyến đường diễu hành và khu vực xung quanh quảng trường phía trước tòa thị chính thành phố. Để có thể thưởng thức một cách trọn vẹn sự kiện chính diễn ra tại quảng trường, bạn nên đến sớm để đảm bảo có được ghế ngồi hay một chỗ đứng thích hợp, nếu không bạn chỉ có thể theo dõi qua một màn hình lớn đặt tại ga Seibu Chichibu.

 

Thiên đường của loài mèo tại Nhật Bản

Hòn đảo nhỏ nằm trên tỉnh Fukuoka, nơi được mệnh danh là "thiên đường của loài mèo" thực sự là điểm đến thu hút rất nhiều những người yêu mèo đến với nó. 

Trên hòn đảo này, ở bất kỳ  ngõ ngách nào bạn đều dễ dàng bắt gặp những chú mèo “nửa hoang dã” nhưng lại rất thân thiện và gần gũi con người. Được nuôi dưỡng và chăm sóc bởi những cư dân của hòn đảo, lũ mèo có mặt ở khắp mọi nơi: trên mái nhà, ngoài bãi biển từ các ngõ hẻm nhỏ hẹp đến cổng làng…

Theo lời kể của người dân địa phương, mèo đã xuất hiện trên hòn đảo này từ rất lâu rồi, và nhiệm vụ chính của chính là xua đuổi các loại động vật gặm nhấm gây tổn hại cho hoạt động sản xuất. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, các chú mèo này bắt đầu vào trong làng để "xin ăn". Dần dần, người dân trên đảo yêu quý và coi mèo như một phần không thể thiếu của hòn đảo. 

Ngày nay thậm chí họ còn nghiên cứu hành vi của chúng để dự báo thời tiết cũng như phân loại…..cá.

 



 

Vùng đất thần tiên trên đỉnh núi Nhật Bản

Nằm trong khu nghỉ dưỡng Tomamu trên đảo Hokkaido của Nhật Bản, Unkai Terrace hiện ra trước mắt với một quanh cảnh tuyệt đẹp, trên đỉnh thường được bao phủ bởi những đám mây trắng bồng bềnh.

Được xây dựng giữa các tầng mây, Unkai Terrace – thuộc khu nghĩ dưỡng Tomamu thuộc bắc hải đạo Hokkaido  là một địa điểm hút khách trong nhiều năm qua. Tại nơi đây có những con suối nước nóng tự nhiên, nhiệt độ luôn thay đổi trong vài giờ. Khi những đám mây trắng tinh khiết hình thành phủ kín đỉnh núi như một tấm chăn trắng muốt thì ngay lập tức màn đêm biến thành ngày.

Khi chưa có hệ thống cáp treo thì để được chiêm ngưỡng hiện tượng độc đáo, kì lạ này du khách phải vượt qua một chặng đường dài nguy hiểm mới tiếp cận được đỉnh núi ở độ cao 1.100. Giờ đây việc này không còn là khó khăn nữa khi chỉ cần hầu bao khá giả một chút, đủ mạo hiểm, đủ thời gian và sự kiên nhẫn là có thể thỏa nguyện mong ước ngắm nhìn quanh cảnh nơi đây. Bạn không chỉ được ngắm hiện tượng độc đáo này mà còn chiêm nghiệm những điều tuyệt vời khác nữa như ngắm nhìn mặt trời mọc ở một khoảng cách gần, ngắm biển mây, chụp ảnh ngọn núi Hidaka và Tokachi nhô lên giữa làn sương mù và thưởng thức một tách cà phê hay một bát súp nóng là khá tuyệt vời (giá khoảng 20 USD).

Unkai Terrace chỉ mở cửa cho khách du lịch vào những tháng mùa hè cho đến cuối tháng 9, ngay khi “biển mây” sụt giảm chỉ có thể quan sát được khoảng 40% thời gian trong ngày thì nơi đây vẫn đóng cửa. Vào những ngày nhiều mây, toàn bộ khung cảnh thiên nhiên bị nhấn chìm trong sương mù dày đặc thì du khách vẫn có thể đi bộ đường dài đến những sườn núi quanh co. Nếu như muốn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp một cách rõ ràng hơn, thường du khách được khuyên dạy sớm để kịp lên hệ thống cáp treo vì nó chỉ bắt đầu hoạt động từ 4h -8h30 phút sáng mỗi ngày.

Hãy cùng ngắm nhìn loạt ảnh về tiên cảnh nơi đây: 

tiên cảnh ở đất nước Nhật Bản
tiên cảnh ở đất nước Nhật Bản 1
tiên cảnh ở đất nước Nhật Bản

 

Kabukicho – Phố đèn đỏ của Nhật

Đất nước Nhật Bản có rất nhiều nét đặc trưng văn hóa, ẩm thực và cả những địa danh du lịch đặc sắc thu hút một lượng lớn du khách đến với đất nước mặt trời mọc này. Bên cạnh những nét đặc trưng đó, không ít người đến với đất nước này vì công nghệ sex.

Kabukicho được biết đến là con phố tình dục nhộn nhịp nhất ở Tokyo. Nằm ở phía bắc ga Shinjuki giữa trung tâm mua sắm giải trí nhộn nhịp, nơi thông thương của nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Chính vì địa thế thuận lợi đó, nơi này đã trở thành trung tâm sex – một nét đặc trưng của đất nước của những cánh hoa Anh Đào từ những năm 1970.

Nằm trên một diện tích nhỏ chỉ khoảng 600 mét vuông nhưng sôi động với 300 cửa hàng kinh doanh đồ chơi tình dục, 200 câu lạc bộ, 80 khách sạn và cả trăm nhà hàng quán bar. Theo ước tính, mỗi ngày có tới 150 000 người ghé thăm Kabukicho.

Phố đèn đỏ Kabukicho -Nhật Bản

Kabukicho bắt đầu mọc lên sau thế chiến thứ II, trước đây nhà nước Nhật Bản đã từng định xây dựng nhà hát ca vũ kịch Kabuki. Tuy nhiên, do một vài quán bar dần dần được dụng lên thu hút các sĩ quan quân đội, gái mại dâm bắt đầu làm việc. Và từ đó, ở đây đã trở thành một trung tâm giải trí lớn và sầm uất hay còn gọi là phố không ngủ vì ánh đền neon luôn sáng rực rỡ. 

Đây còn là địa điểm khét tiếng nơi các Yakuza ( Mafia Nhật) vẫn thường lui tới ăn chơi, do đó đây cũng được coi là những vùng ngoại vi nguy hiểm nhất Tokyo. Tuy nhiên, Kabukicho vẫn có khu vực rất an toàn cho khách du lịch. 

Phố đèn đỏ của người Nhật

Ban ngày, Kabukicho mang nét hiền hòa giản dị, tuy nhiên sau 6h tối đặc biệt là tối chủ nhật, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng. Những bảng quảng cáo đèn màu chớp tắt giăng mắc khắp nơi, các hộp đêm hình các cô gái Nhật tươi trẻ gọi mời, người ta đặt trên lề đường những tấm hình sexy khêu gợi, cửa hàng bán dụng cụ sex mở ra như nấm…Trong những con đường nhỏ du khách tấp nập ngược xuôi, ngoài đầu đường một số người cầm bảng quảng cáo trong những bộ y phục hóa trang kỳ dị. Trước các hộp đêm, các cô gái mắt xanh, môi đỏ, giày cao trong những váy đầm cực ngắn hay bộ đồ ngủ mỏng tanh thướt tha đứng phát tờ rơi quảng cáo với giá biểu nhẹ nhàng hấp dẫn.

Phố đèn đỏ của người Nhật

Tuy nhiên, khi ghé vào các tụ điểm này, du khách cần hết sức cẩn thận với việc bị ép giá vào cửa nếu không hỏi trước (có thể lên tới hàng trăm USD), hay chạm trán với các mafia Nhật Bản làm bảo kê cho các câu lạc bộ ở Kabukicho.Một số cửa hàng ở Kabukicho đóng cửa lúc nửa đêm, những cửa hàng còn mở là những nơi được bảo kê bởi mafia và người ta thường khuyến cáo những khách hàng không có “máu mặt” thì không nên ghé qua.

Phố đèn đỏ của người Nhật

Kabukicho được coi là đẹp nhất về đêm với muôn màu muôn vẻ của những ánh đèn neon đầy màu sắc. Hãy thử đến với Kabukicho một lần vào ban đêm và bạn sẽ thấy vì sao khu phố này lại quyến rũ đến vậy. 

 

 

Vương quốc Thỏ tại Nhật Bản – Okunoshima

Okunoshima là một hòn đảo nhỏ thuộc tỉnh Hiroshima, Nhật Bản. Nơi đây được mệnh danh là vương quốc của loài thỏ. 

Nhật Bản được biết đến với rất nhiều nét đặc trưng, ngoài thiên đường của loài mèo đã được nhắc đến trong những bài viết trước. Vương quốc của loài thỏ cũng đã xuất hiện ở đất nước này. Rất nhiều người đến với Okunoshima để chơi với những chú thỏ vô cùng dễ thương. Cho thỏ ăn là một trong những hoạt động giải trí hấp dẫn nhất trên đảo.

 

Một số giải thuyết cho rằng, vào thời thế chiến thứ hai để kiểm tra độc tố của gas một lượng lớn thỏ đã được đưa đến đảo. Sau khi chiến tranh kết thúc, thỏ được thả về với tự nhiên chính vì thế nơi đây thu hút khá là nhiều thỏ đến vậy. 
 
Trong khi đó, một số khác khẳng định, một nhóm trẻ em đã tới đây vào năm 1971 và để lại 8 con thỏ. Hiện nay, loài thỏ đã phát triển số lượng nhanh chóng, lên tới hàng trăm con trên hòn đảo chỉ có chu vi khoảng 2,5 km.

Thỏ ở đây đã quen với sự hiện diện của con người, chúng chủ động tiếp cận với khách du lịch để xin đồ ăn, đặc biệt vào khoảng thời gian mà thức ăn tự nhiên bị cạn kiệt. Nắm bắt được nhu cầu đó, người dân trên đảo đã bán cà rốt, bắp cải và thức ăn cho thỏ với gián 21k/cốc. 

Dưới đây là những hình ảnh về đảo thỏ : 





 

Món khai vị trong văn hóa Nhật Bản

Tsukemono (còn gọi là dưa chua) là một món khai vị đặc trưng của nước Nhật. Nó cũng giống như dưa muối của người Việt chúng ta vậy Món này dùng với cơm, và có khi để nhắm rượu nữa. 

Ẩm thực Nhật Bản luôn là một trong những chủ đề được rất nhiều người quan tâm. Trong đó, không thể thiếu là các món khai vị mang phong cách Nhật được đựng trong những chiếc đĩa nhỏ và mang ra đầu tiên cho khách nhâm nhi. 

Tsukemono là tên gọi món dưa muối – món khai vị đặc trưng của Nhật Bản. Cách làm phổ biến nhất là muối hoặc ngâm nước muối. Tương đậu nành, miso, giấm, cám gạo (gọi là nuka) được dùng để làm tsukemono. Và phải để nơi thoáng mát. 

Daikon, ume, củ cải, cải thảo trung quốc (hay gọi là hakusai), và dưa chuột là những loại rau củ được người Nhật ưa dùng để chế biến Tsukemono. 

Theo cách truyền thống, người Nhật tự làm tsukemono bằng 1 cái tsukemonoki . Muối vốn là 1 cách chủ yếu để bảo quản thực phẩm. Ngày nay, tsukemono có thể mua sẵn tại các siêu thị, nhưng rất nhiều gia đình Nhật vẫn tự làm món ăn này. Đặc biệt, tất cả những dụng cụ cần thiết để muối là 1 cái bình, lọ hoặc vại, đem cho rau củ cần chế biến vào đó với muối trắng, rồi nén là được 

Một cái tsukemonoki (vại muối dưa) là đồ nén dưa của Nhật. Người ta nén bằng cách chèn đá nặng lên trên (gọi là đá chèn dưa ) nặng cỡ 1 đến 2 kg, đôi lúc còn nặng hơn Cách này vẫn được người dân thực hiện đến giờ, với các loại vại nhựa, gỗ, thủy tinh hoặc gốm. Trước khi có tsukemonoki, đồ nén được làm bằng 1 cái nêm chặn trên nắp vại. 

Người ta dùng cả đá và kim loại để nén, với tay cầm bên trên và thường có phủ 1 lớp nhựa bảo quản. 1 cách thực hiện nữa ngày nay đó là dùng đồ né nhựa, và để điều chỉnh độ nén, người ta dùng 1 cái vít để siết chặt đồ nén 

Đây là các loại tsukemono phổ biến:

Beni shoga

Các món khai vị Nhật Bản

Bettarazuke

Các món khai vị Nhật Bản

Fukujinzuke

Các món khai vị nhật bản

Narazuke

Các món khai vị kiểu Nhật

Gari

Các món khai vị kiểu Nhật

Nukazuke

Rakkyozuke

Senmaizuke

Shibazuke

Umeboshi

 

Đi lễ đầu năm trong văn hóa Nhật Bản

Không giống như Việt Nam, Nhật Bản ăn tết dương lịch. Mặc dù vậy, họ cũng có những phong tục tập quán cho ngày lễ của mình, và ngày 30 tết đối với họ là ngày rất quan trọng, kết thúc một năm cũ và chuẩn bj đón chào năm mới. 


Sau khi hoàn tất các công việc chuẩn bị cho một năm mới, tất cả thành viên trong gia đình sẽ quây quần cùng nhau ăn một bữa tối. Sau đó, họ sẽ chờ nghe 108 tiếng chuông giao thừa và thường thức đến sáng ngày hôm sau để đón anh mặt trời của ngày đầu năm mới.


Vào những ngày tết, người Nhật thường tổ chức các nghi lễ để đón các vị thần đã phù hộ cho mùa màng tươi tốt và đón linh hồn của tổ tiên đã che chở cho họ mạnh khỏe trong suốt năm qua. Trong ngày tết,đây là ngày duy nhất trong năm  trẻ em thường được người lớn cho nhận Otoshidama (là tiền mừng tuổi, lì xì), nó mang ý nghĩa là phần thưởng của các vị thần dành cho sự cố gắng của trẻ trong năm và khuyến khích chúng cố gắng trong năm tới.

Đặc biệt, vào những ngày Tết, người Nhật cũng đi lễ đền chùa. Hatsu-mode (đi chùa đầu năm) là cuộc viếng thăm một ngôi chùa để cầu xin sức khỏe, tài lộc, cầu cho hòa bình thế giới… Nhiều năm trước đây, theo thói quen, người ta thường viếng thăm đền chùa vào lúc giao thừa, giữa lúc 108 tiếng chuông vang rền. Tuy nhiên, hiện nay người ta thường đi viếng đền chùa vào một trong ba ngày đầu năm. Ngoài đi chùa, người Nhật còn đi đền (jinza) với những phong tục được truyền bá từ lâu đời. 


Vào đầu năm, các gian hàng bán omikuji, omamori, ofuda….là các bùa cầu bình an cho năm mới, mẹ tròn con vuông, an toàn giao thông, làm ăn phát tài, thi đậu, tình duyên… Đây là một thói quen, tập tục vào năm mới mà những người đi lễ đầu năm thường thực hiện để cầu mong cho sự thuận hòa trong năm mới. 

Sau khi lấy được bùa omikuji, người ta sẽ mở ra và coi kết quả của lá bùa. Nếu kết quả tốt người ta sẽ đưa về nhà với hi vọng may mắn thuận lợi như lá bùa sẽ theo mình. Nếu kết quả xấu, họ sẽ buộc lên các cành cây hay dàn gỗ trong điện với hi vọng làm tiêu tán những điều không thuận lợi ở lại chùa. Sau dịp tết, tại các đền Jinza sẽ làm một lễ lớn để cầu nguyện giải trừ các kết quả xấu của họ. 


Với những người đúng năm tuổi thì treo quả bầu khô lên sau đó sẽ cầu nguyện. 

 

 

Tokyo – thủ đô của Nhật Bản

Là thủ đô của đất nước Nhật bản, Tokyo là thành phố lớn, hiện đại và đông đúc nhất thế giới. Trong tiếng Nhật, Tokyo nghĩa là thủ đô ở phía đông, đây cũng là niềm tự hào của đất nước mặt trời mọc. 

Lịch sử đất nước Nhật Bản 

Trong tiếng Nhật, Tokyo – nghĩa là vùng đô thị phía đông. Đây là vùng đô thị tập trung khá nhiều dân cư. Đây là 1 trong 3 "trung tâm chỉ huy" của nền kinh tế thế giới. 

Khi nhắc đến Tokyo không ai là không nhớ đến hai người có công thnafh lập và xây dựng một Tokyo huy hoàng và hiện đại như ngày nay. Đầu tiên là tướng quân Tokugawa Ieyasu – người đã xây dựng và thiết lập Tokyo như một căn cứ với tên là Edo. Người thứ hai là Thiên Hoàng Minh Trị. 

Trong suốt chiều dài lịch sử của thành phố Tokyo, không ai là không nhớ đến hai thảm họa mà nơi đây phải gánh chịu đó là trận động đất Kanto năm 1923 và chiến tranh thế giới lần thứ hai ( 1939 – 1945). 

Bây giờ, Tokyo đã là một thành phố hiện đại và đông dân nhất thế giới bất chấp những khó khăn của đất nước.  Với hơn 12 triệu dân sinh sống, đây cũng là một trong những thành phố đông dân cư nhất thế giới. Đây cũng là nơi tập trung nhiều thành tựu khoa học kĩ thuật mới nhất. Đây cũng là nơi dung hòa giữa những nét truyền thống và hiện đại của đất nước này. 

Đến Nhật Bản khi nào là tốt? 

Nhật Bản có rất nhiều lễ hội truyền thống diễn ra xuyên suốt quanh năm. Nếu như bạn đến Tokyo vào đúng dịp những ngày lễ này, bạn sẽ có thể chứng kiến được nhiều điều thú vị. Mùa xuân vào khỏang tuần cuối cùng của tháng 3 đến tuần thứ hai của tháng 4 chính là lúc lễ hội Hoa Anh Đào diễn ra. Đây là thời điểm cả Tokyo chìm ngập trong màu hồng của hoa anh đào – biểu tượng của đất nước Nhật Bản. Cũng là thời điểm để bạn bè và gia đình có dịp ngồi lại bên nhau. Hoặc nếu bạn muốn ngắm pháp bông thì có thể đến Tokyo vào dịp cuối tháng 7. Thời điểm này có lễ hội pháp hoa được tổ chức bên sông Sumida chảy ngang qua Tokyo. Dịp này sẽ có khoảng 20.000 quả pháo rực rõ đầy màu sắc được bắn lên và thu hút rất nhiều khách du lịch đến với lễ hội .

Vào dịp cuối tháng 8, khi mùa thu đến , thời tiết trở nên dễ chịu và bạn sẽ được chiêm ngưỡng một màu đỏ rực của lá phong.

Vào đầu tháng 2, thời điểm lạnh nhất của đất nước Nhật Bản, Tokyo quả thực rất đẹp với một màu trắng đến tinh khiết. Vào dịp Tết Dương lịch thì sẽ thấy không khi náo nhiệt và rạo rực như những ngày tết Âm lịch ở Việt Nam. Đó là dịp của lễ hội Omisoka được tổ chức. Mọi người đợi đến nửa đêm giao thừa đi chùa, tung những đồng xu và cầu nguyện những điều may mắn sẽ đến với mình, bạn bè cùng người thân. Cái cảm giác được hòa mình cùng bạn bè trong cái không khí phấn khởi, háo hức; đắm mình trong cái se se lạnh để đón chào những giờ phút đầu tiên của năm mới thật tuyệt vời, chẳng thể nào diễn tả được. Còn nếu bạn không thích ồn ảo, đông đúc thì nên tránh đến đây trước hay sau tết Dương lịch vài ngày.

Đi những đâu?

Disney Land hay Disney Sea Tokyo cũng là một điểm được rất nhiều người quan tâm khi tới thành phố Tokyo. 

Công viên Ueno cách Ameyoko Ueno vài phút đi bộ. Hầu như mọi lúc, khách viếng thăm đều không quên dành chút thời gian ở lại đây. Có rất nhiều bảo tàng ở đây dành cho bạn khám phá. Vào mùa xuân, lễ hội Hoa Anh Đào chính là một trong những sự kiện lớn nhất trong năm. Cả gia đình và công ty mướn một góc nhỏ ở dưới cây, tổ chức party sau giờ làm việc. Ở đây không có phân chia vùng nếu như bạn đến đúng vào dịp lễ hội. Bạn chỉ cần tham gia bất kỳ nhóm nào, ngồi xuống và uống bia, ăn thức ăn. Sẽ không ai hỏi bạn điều gì cả bởi vì ở đây rất là đông người.

 

Công viên Phú Sĩ mở cửa vào đầu mùa hè cho đến đầu mùa thu, vào khỏang cuối tháng 5 cho đền đầu tháng 9. Hầu hết du khách đến đây đều vào ban đêm, sau đó đợi để ngắm cảnh mặt trời mọi trên đỉnh núi Phú Sĩ. 

Chùa Sensoji nằm ở quận Asakusa, một trong 23 quận của Tokyo. Bạn có thể dễ dàng nhận ra Asakusa mang nét cổ kính nhất trong thủ đô Tokyo hiện đại. Sensoji là ngôi chùa cổ xưa nhất không những của Asakusa, mà là của cả thành phố Tokyo. Nếu bạn đến Tokyo mà không ghé thăm Asakusa hay chùa Sensoji thì thật là tiếc. Chùa Sensoji đã có từ hơn 1000 năm trước. Asakusa có phố bán hàng Nakamise dài độ 200m, có mái che, hai bên toàn quầy hàng. Ở đây, bên cạnh những hàng lưu niệm mang tính cách Nhật, các quầy hàng còn bày bán các loại kẹo, bánh, hạt rang… truyền thống của Asakusa. Phố bán hàng này cũng có lịch sử nhiều thế kỷ. Cuối phố Nakamise là cổng chính thứ 2, còn gọi là cửa Hozomon. Ngay trước mặt cửa này là sân chính và chùa Sensoji, phía bên phải là khu lăng mộ Kasakura, bên trái là ngôi chùa năm tầng và điện Dempoin. Ngày nay quận Asakusa là một trong số ít ỏi những quận còn giữ được rõ nét về một Tokyo cổ xưa. Di tích được xem là ấn tượng nhất của Asakusa là Sensoji, một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng được xây dựng vào thế kỷ thứ 7.

Tháp Tokyo cũng là một địa điểm yêu thích của những người đến Tokyo. Lên đến đỉnh tháp bạn có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố, trên đó cũng có cả khu thủy cung, bảo tàng Wax. Vào ngày đẹp trời bạn còn có thể nhìn thấy núi Phú Sỹ. Số tiền bỏ ra để lên đỉnh tháp là 1500 yên tuy nhiên bạn sẽ được nhận con dấu lưu niệm, đây là món quà lưu niệm miễn phí khi đến nơi đây và chắc chắn chỉ có ở đây mới có. 

Một số điểm mua sắm ở Tokyo

Ginza : điểm mua sắm nổi tiếng và khá truyền thống của Tokyo. Nói đến Tokyo shopping, ai cũng nghĩ đến khu này. Nhiều đường điện ngầm đến khu này khá dễ dàng. Bao quanh Ginza là các thương xà vốn đã tồn tại lâu đời ở Tokyo: Seibu, Hankyu, Matsuya, Mitsukoshi, Takashimaya,… có cái bắt nguồn từ tiệm bán kimono vào thế kỷ 17 như Takashimaya. Trong các thương xá này nhân viên lễ phép và nếu đến đúng vào lúc thương xá sắp đóng cửa, bạn sẽ được nhân viên lễ tân kính cẩn chào tại cửa, cái chào gập lưng đúng 90 độ! Các THƯƠNG XÁ thường nhiều tầng, khoảng 5 tầng trở lên. Tầng hầm cho khu đồ ăn. Tầng một bao giờ cũng là mỹ phẩm, tầng 2-3 dành cho đồ nữ, sau đó là tầng dành cho nam giới… Khách khu này thường là giới trẻ đến trung niên, ăn mặc thời trang và sang trọng.

Shibuya : Khu mua sắm lớn thứ hai của Tokyo. Cũng bao bọc bởi các thương xá lớn nhưng bên cạnh đó tồn tại nhiều tiệm nhỏ bán thời trang Nhật, hàng hoá trưng bày dạng cửa hàng nhỏ. Shibuya vào buổi tối với trục đường băng ngang 4 góc ngã tư xuất hiện nhiều hình ảnh về nước Nhật. Shibuya cũng tồn tại nhiều khu chơi game. Khách của khu này từ sinh viên học sinh cho đến dân đi làm cà vạt áo vest cũng sà vào chơi.

Các khu khác : Muốn mua hàng kim khí điện máy thì đến khu Akihabara, nơi có thể tìm thấy nhiều phụ tùng cũ mới khác nhau. Khu Asakusa, đường vào đền Senso-ji, bạn có thể mua đặc sản kẹo Nhật hay các món quà lưu niệm như túi, ví hay cả một bộ kimono. Khu Ameyoko gần ga Ueno được ví như khu chợ trời. Hàng hoá gồm giày dép, đồ ăn vặt hay quần áo rẻ và nhiều món như nhập từ Trung Quốc sang. Khu này tồn tại từ sau Thế chiến thứ 2 và đã có thời nổi tiếng như khu chợ đen của Tokyo.

Ẩm thực ở Tokyo

Ẩm thực Nhật nổi tiếng trên thế giới về sự tinh tế từ giai đoạn chuẩn bị cho đến lúc trình bày món ăn ra trên bàn. Khi đến Tokyo bạn cũng nên ăn thử những món nổi tiếng trên thế giới lâu nay của Nhật như :

Sushi : Ăn sushi ngon và tươi nhất là ở Nhật nhưng cụ thể là ăn ở chợ cá Tsukiji. Nếu may mắn, bạn sẽ được chủ hàng mời nếm thịt cá mập! Nhưng để ăn sushi, hãy ra các quán gần đó. Nhớ nếm thử sushi (cá sống phía trên, cơm cuộn phía dưới) và sashimi (cá sống xắt lát, ăn trực tiếp). Ăn chấm với xì dầu có pha chút wasabi. Giá từ 100 – 600 yen Nhật một cái. Bạn có thể ăn sushi ở mọi nhà hàng Nhật hoặc ở sushi bar gọi là keiten belt. Mặc dù bản thân người Nhật chỉ xem các kiểu bar này như fastfood vì sushi để ra ngoài lâu trên belt, không còn độ tươi ngon cho lắm.

 

Tempure (Chiên bột) : Nhào bột, tẩm rồi chiên phồng, đây là một món nổi tiếng thứ hai của Nhật sau sushi. Món được tẩm có thể là tôm, cà tím, bí, chấm với nước chấm riêng. Món này bán thông dụng ở mọi nhà hàng Nhật, từ quán ăn bình dân bên đường hay trong các thương xá. Giá cả từ 500 – 1.200 yen Nhật

Mì SoBa : Ăn nóng hoặc lạnh. Những sợi mì được làm từ bột kiều mạch, cắt mảnh sợi như sợi mì ống nhưng khứa dẹp. Khi ăn, có thể chỉ đơn giản được bày trên rá, kế bên là chút xì dầu, rải chút hành, để trộn vào ăn. Ngoài Soba, Nhật còn có Udon hay Ramen, sợi mì lớn hơn sợi Soba.

Gyaoza : xuất phát từ Trung Hoa nhưng rất được yêu chuộng ở Nhật, dạng bánh bao. Trong nhồi thịt và rau bắp cải chiên lên.

Shabu Shabu: Món này khá đắt. Thịt bò ngon, cắt lát mỏng ăn nhúng trong nồi nước lẩu, dùng kèm với bún, đậu hủ và rau.

Okonomiyaki : bánh xèo Nhật, vừa có phong cách pizza vừa có chút bột bánh xèo. Ăn nóng trên chảo phẳng ngay tại bàn.

Cũng không thể bỏ qua hệ thống fastfood rất Nhật Bản, đó là Yoshinoya, Lotteria,… Những cửa hàng này có mặt ở mỗi góc đường, thuận tiện ghé ăn một tô cơm thịt bò hay ăn bơ- gơ bánh gạo. Giá rẻ, phục vụ nhanh và khách ghé ăn rồi đi chỉ trong vòng 5-10 phút. Hiện nay Yoshinoya cũng franchise ra nhiều nước châu Á khác, cùng phục vụ món ăn truyền thống của mình.

 

 

Nét tương đồng trong quan niệm về Tết của Nhật Bản và Việt Nam

Kadomatsu-don-tet

Có thể nhận thấy sự tương đồng giữa người Nhật và người Việt trong những phong tục, thói quen ngày Tết cụ thể, hay ngay cả trong suy nghĩ, quan niệm về Tết.

Cũng giống ở Việt Nam, đối với người dân đất nước Mặt trời mọc, Tết là dịp lễ lớn nhất, quan trọng nhất và cũng là dài nhất trong năm. Năm nay, người Nhật sẽ được nghỉ Tết trong 10 ngày, từ ngày 27/12/2013 đến hết ngày 5/1/2014.

Trước đây, Nhật Bản cũng ăn Tết theo lịch Mặt Trăng (Âm Lịch) như các nước châu Á khác. Vào năm 1873, tức 5 năm sau khi tiến hành công cuộc Duy Tân, họ chính thức chuyển sang ăn Tết theo lịch Mặt Trời (Dương lịch). Kể từ đó, ngày 1, 2 và 3 tháng 1 Dương lịch được coi là 3 ngày Tết truyền thống của Nhật Bản.

Người Nhật gọi Tết là "Oshogatsu", là dịp để chào đón Thần Năm Mới Toshigamisam – vị thần mang lại may mắn, sức khỏe và thịnh vượng.

Cây Nêu và Kadomatsu

Giống như người Việt Nam, trước Tết  dù bận rộn đến mấy, người Nhật cũng dành thời gian để tự tay lau rửa nhà cửa thật sạch sẽ. Họ quan niệm làm như vậy sẽ giúp gột bỏ những gì không may mắn của năm cũ, đón chào năm mới với tinh thần và thể chất tươi mới, sạch sẽ nhất. Đường phố, các khu vực công cộng như nhà ga, quảng trường vốn hàng ngày đã rất sạch sẽ, nay như càng gọn gàng, ngăn nắp hơn.

Nếu như người Việt xưa có phong tục trồng cây Nêu ngày Tết, thì người Nhật cũng thường đặt 2 bó cây trước hai bên cửa nhà, gọi là Kadomatsu, để trừ tà ma, đón may mắn.

Kadomatsu gồm 3 ống tre tươi vát chéo cùng một vài cành thông. Ba ống tre tươi vát chéo được xếp từ cao xuống thấp, tượng trưng cho chiếc thang để đón Thần Toshigamisam xuống hạ giới. Số cành thông phải là số lẻ, bởi theo quan niệm xa xưa thì hạnh phúc không thể chia đều và sẽ mãi mãi được duy trì, chỉ có nỗi bất hạnh mới chia được để chấm dứt. Còn dùng cành thông là vì, trong mùa đông, lá của loài cây này vẫn xanh tươi, sắc, nhọn, tượng trưng cho sự thanh khiết và sức sống, có thể diệt trừ ma quỷ.

Trong nhà, dưới vòm cửa hay trên bàn thờ, người ta treo Shimekazari – một loại bùa chú – có ý nghĩa ngăn không cho ma quỷ vào nhà.

Kadomatsu và Shimekazari được trang trí cho đến hết ngày mùng 7/1 và sau đó, theo tục lệ, người ta sẽ mang đến chùa hoặc tự đốt trước cửa nhà như hình thức hóa vàng của người Việt.

Người Nhật thường không bày bàn thờ trong nhà, mà thường thờ cúng tổ tiên tại chùa hoặc đền. Bàn thờ tại nhà chỉ bày trong dịp Tết. Trên bàn thờ ngày Tết, không thể thiếu những sản phẩm truyền thống đặc trưng là bánh gạo Mochi, quả hồng, hạt dẻ, hạt thông, đậu đen, cá trích, mực và cam.

Thời gian cho sum họp và lễ chùa

Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nước Âu, Mỹ, nhưng người Nhật vẫn không có thói quen đi chơi đêm Giáng sinh, và cũng không tổ chức đón Giáng sinh một cách ồn ào. Chỉ số ít thanh niên đi ra đường, đến các điểm có trang hoàng ánh sáng để chụp ảnh và hoàn toàn không có cảnh chen lấn, tắc đường.

Nhưng không khí chuẩn bị Tết ngay sau đó thì thực sự khác biệt. Dù ở đâu, làm gì, người Nhật vẫn luôn tìm cách về sum họp, dành tối đa thời gian bên gia đình.

Đêm giao thừa là thời điểm người Nhật cùng nhau ăn bữa cơm "tất niên", bữa ăn đông đủ, được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất trong năm. Các thành viên trong gia đình cùng trò chuyện, ôn lại những kỷ niệm của năm cũ, chia sẻ những dự định, kế hoạch của năm mới. Cũng giống như người Việt, câu chuyện cuối năm thường mang tính tổng kết, tránh nhắc lại những điều xui xẻo.

Món ăn không thể thiếu trên bàn ăn trong đêm giao thừa là Toshikoshi Soba – loại sợi mì dài và dai làm từ kiều mạch, gạo. Đây là phong tục truyền thống dựa trên liên tưởng về việc ăn những sợi mỳ dài có ý nghĩa "chuyển giao từ năm cũ sang năm mới". Cũng có quan niệm cho rằng sợi mỳ dài này tượng trưng cho tuổi thọ và may mắn kéo dài trong năm mới.

Kết thúc bữa cơm tất niên, nhiều người sẽ đến các đền, chùa gần nhà để đón giao thừa. Tại chùa, họ sẽ tung những đồng xu vào các hòm công đức lớn đặt ngay cửa tạo ra tiếng kêu leng keng rất vui tai.

Đúng thời khắc chuyển giao sang năm mới, chuông tại tất cả các đền, chùa trên toàn nước Nhật sẽ đồng loạt điểm 108 tiếng. Theo quan niệm xưa, tiếng chuông vang lên 108 lần để xua đi 108 ham muốn trần tục khiến con người phải khổ sở. Có thể nói, đây là một nét văn hóa rất riêng có của Nhật Bản khi tiếng chuông ngân nga đồng thời trên cả nước, gửi đi thông điệp và lời cầu nguyện của tất cả mọi người cho một năm mới hạnh phúc, bình an.

Lễ chùa xong, người Nhật cũng thường rút quẻ (Omikuji). May mắn rút được quẻ lành, họ sẽ mang về nhà, còn nếu rút phải quẻ hung thì sẽ buộc lên cành cây ngay tại chùa để tránh điều không may mắn.

Khai bút và những hành động đầu tiên

Giống như người Việt, người Nhật cũng rất chú trọng những hành động, lời nói đầu tiên sau thời điểm giao thừa, bởi họ quan niệm đó là những hành động mang tính biểu tượng, có thể mang lại may mắn  hoặc xui xẻo cho cả năm.

Sáng mồng 1 Tết, nhiều người sẽ dậy thật sớm để có thể đón được ánh mặt trời đầu tiên với tâm niệm sẽ gặp may mắn trong cả năm. Truyền hình cũng liên tục cập nhật hình ảnh mặt trời mọc tại khắp các địa điểm trên đất nước để người dân theo dõi.

Nếu gặp bất cứ người Nhật nào trong ngày Tết, bạn sẽ thấy họ luôn mỉm cười thật tươi, cúi chào nhau thật thấp. Nụ cười và sự thân thiện, vồn vã trong ngày mồng 1 Tết mang thông điệp của sự tươi mới, vui vẻ cho cả năm. Đây cũng là dịp người dân thường tặng nhau những món quà đầu năm và tiền lì xì cho trẻ em. 

Nhiều người, đặc biệt những người làm công việc liên quan đến giấy bút sẽ dành thời gian sáng sớm ngày mồng 1 Tết để khai bút. Thông thường, họ sẽ viết những lời chúc dành cho mình, cho người thân, hoặc sáng tác một bài thơ. Nét bút đầu tiên của cả năm này sẽ được lưu giữ cẩn thận.

Tiếng Nhật có hẳn những từ riêng để gọi những hành động đầu tiên này. Chẳng hạn, kakizome có nghĩa là nét bút đầu tiên, hay tục khai bút; hatsuyume- giấc mơ đầu tiên; hatsumoude- chuyến đi lễ đền, chùa đầu tiên; hakizome- lần quét nhà đầu tiên; hatsuburo – lần tắm đầu tiên…

Vào sáng mồng 1 Tết, các gia đình Nhật Bản đều làm lễ cúng Thần Năm Mới (Oshogatsu) để cầu cho một năm mưa thuận, gió hòa, mọi thành viên trong gia đình được mạnh khỏe, hạnh phúc. Sau nghi thức cúng, họ cùng nhau uống rượu, ăn bánh osechi (loại bánh truyền thống dành riêng cho ngày Tết) cùng canh bánh dày Ozoni. Đây là món canh sử dụng tất cả các nguyên liệu được bày cúng trên bàn thờ tổ tiên trong đêm giao thừa. Người Nhật cho rằng, ăn những thứ các vị thần hay tổ tiên đã ăn sẽ giúp họ mạnh khỏe hơn.

Sau Giao thừa, trẻ em sẽ được bố mẹ, ông bà mừng tuổi. Tiền mừng tuổi thường được để trong các bao màu đỏ, được trang trí hình con giáp của năm một cách ngộ nghĩnh. Người lớn trong gia đình thường tặng nhau những món quà năm mới do tự tay mình chuẩn bị.

Trong 3 ngày Tết, người Nhật cũng sẽ đến thăm nhà, tặng quà nhau để chúc mừng năm mới, việc họ hiếm khi thực hiện trong cả năm.

Sau Tết, người Nhật còn có Tết 7 loài hoa vào ngày 7/1, tục làm vỡ bánh dày vào ngày 11/11 và lễ thành nhân ngày 15/1 cho các thanh niên nam nữ tròn 20 tuổi.

Thông thường, phải sau ngày 15/1, không khí Tết mới thực sự qua đi, và nhịp sống mới thực sự trở lại sôi động vốn có. 

 

 

Các thực phẩm truyền thống của Nhật Bản

Dry_Goods2

Ngày nay chúng ta chủ yếu sử dụng các sản phẩm đóng hộp và làm lạnh phổ biến nên gần như loại của hàng thực phẩm đạc sản gần như biến mất khỏi các đường phố của Nhật Bản là Kanbutsu-ya.  Để giải quyết nhu cầu thiếu nguyên liệu tươi sống trong mùa đông,mọi người bắt đầu chuyển sang các loại thực phẩm được bảo quản tuy chúng tẩy rửa, ướp muối, lên men hoặc sấy khô. 

Chỉ còn một số ít của hàng Kanbutsyu-ya hoạt động, nhưng bạn vẫn có thể mua tất cả các loại thực phẩm khô truyền thống tại các siêu thị cửa hàng thực phẩm và đặt hàng qua mạng. Những sản phẩm chủ yếu bao gồm hải sản khô, rong biển khô (nori, konbu, hijiki….) đậu khô, hoa quả khô. Rau sây khô cũng đang hồi phục trong những năm gần đây. Đây là  món ăn lành mạnh và ít calo đảm bảo đủ chất xơ cho một bữa ăn hàng ngày. 


Nấm vẫn là loại thức ăn khô có ích nhất. Nấm đông cô khô chất lượng với nhiều hương vị, có thể ngâm chúng cho mềm hơn để chế biến thành nước dùng cho món súp. Nấm hydrat sẽ rất tuyệt khi dùng trong món nimono, xào và lẩu cũng như sử dụng trong sushi.


Ngoài nấm , loại thực phẩm khô phổ biến là daikon kiriboshi (củ cải daikon khô thái nhỏ). Loại này khá là giòn , dai và hương vị cũng có sự khác nhau khi được nấu chín, hay được ngâm trong nước cho đến khi nở và sau đó nó thường được nấu cùng các nguyên liệu khác của Nhật như dashi, sake, nước tương, đường, mirin, đậu hũ chiên, thịt gà hay nhiều loại rau. Nó cũng có thể được sử dụng trong món xào và món salad. 


Một số thực phẩm khô và rễ cây Ngưu bàng thái nhỏ cùng với cà rốt được sử dụng để nấu những món ăn tương tự, nấu súp trong lửa nhỏ, nấu với gạo và gia vị. Rau khô phổ biến là Kanpyo (dải mướp khô) được sử dụng để buộc lớp da đậu hũ thành từng bó nhỏ, hoặc nấu trong nước sốt sử dụng như là một điền sushi cuộn hoặc trộn vào chirashizushi.


Và cũng đừng quên đậu khô, nó là một nguồn chất xơ tuyệt vời, cùng protein và các chất dinh dưỡng khác nhau. Nếu bạn không muốn tốn thời gian trong quá trình ngâm và nấu ăn, bạn có thể mua các loại đậu chất lượng cao đóng hộp và đông lạnh, từ đậu navy trắng đến đậu nành và nhiều hơn nữa. Hoặc thử tsubu-an, vị ngọt, và đậu chunky atduki đó là những nguyên liệu cơ bản cho kẹo truyền thống như Daifuku và ohagi. Đối với đồ ăn nhẹ cũng có trái cây khô, như Hoshigaki (quả hồng xiêm), hoshi-Anzu (mơ) và hoshi-IMO ( khoai lang khô).

Bạn có thể dễ dàng làm món salad đơn giản giàu chất xơ kết hợp các loại thực phẩm khô và đóng hộp khác nhau. Ngâm daikon kiriboshi trong khoảng 20 phút và vắt sạch kết hợp với đậu nấu chín hoặc đóng hộp, cá ngừ đóng hộp, trứng luộc, một số loại rau xà lách tươi và sốt mayonnaise hoặc dầu trộn salad.


Không chỉ là món ăn khô truyền thống nhiều chất xơ và tốt cho bạn, chúng còn là một mối liên kết với nền ẩm thực trong quá khứ của Nhật Bản. Chúng mất ít không gian để lưu trữ và có thể bảo quản trong một thời gian dài.

 

 

Tokyo có gì thu hút bạn?

sakura-thang-4-9

Tokyo – thủ đô của đất nước Nhật Bản, thành phố lớn hiện đại và đông đúc nhất thế giới. Với sư pha trộn giữa nét văn hóa truyền thống và hiện đại. Đây là vùng đất mà bất kỳ ai đặt chân đến đất nước Nhật Bản đều muốn ghé đến. 

1. Những khu vườn tại cung điện Hoàng gia

Cung điện Hoàng gia – trái tim của Tokyo là điểm hấp dẫn nhất của thành phố này mà những người ghé thăm nên đặt chân đến. Đây là khu vườn lộng lẫy bao quanh khu nhà của Nhật Hoàng và gia đình hoàng gia, ngay gần nhà ga Tokyo và vé vào cửa miễn phí.

2. Đến thăm Harajuku

Harajuku là ngôi nhà của thời trang đường phố và cosplay. Đây là địa điểm tốt nhất tại Tokyo để du khách chiêm ngưỡng những tác phẩm Cosplay. Đây cũng nằm gần ngôi đền nổi tiếng Meiji. 

3. Tham quan đền Shinto

Hầu hết các ngôi đền tại Tokyo đều mở cửa tự do cho người dân vào tham quan. Một số ngôi đền nổ tiếng có thể tính phí vào cửa. Các lễ hội tôn giáo được tổ chức quanh năm và thường xoay quanh các ngôi đền khiến cho đây cũng là một trong những điểm thu hút khách tham quan. 

Ngôi đền với lịch sử hàng trăm năm cổ xưa và những phong tục tập quán là địa điểm không nên bỏ qua khi bạn đặt chân đến vùng đất Nhật Bản 

4. Karaoke 

Người Nhật làm việc khá là áp lực và để giải tỏa áp lực họ thường tìm đến những quán Karaoke  để giải tỏa áp lực. Chính vì thế, dịch vụ này thực sự rất tuyệt vời mà nếu có thời gian ghé thăm thành phố nhộn nhịp này, bạn không nên bỏ qua. 

5. Thị trấn điện Akihabara

Đây là ngôi nhà của công nghệ – khu tiện ích của Tokyo – điểm đến thường xuyên của những ai đặt chân đến đây. Điểm đến này cũng thường xuyên có những chương trình khuyến mãi sẽ tiết kiệm được khá nhiều chi phí. 

6. Đấu vật Sumo

Trận đấu Sumo là một trong những nét văn hóa của người Nhật Bản, tuy nhiên đây lại là một môn thi đấu có vé vào cửa không hề rẻ đổi với các bạn thực tập sinh Nhạt Bản. nên cách tốt nhất là bạn hãy tham gia những buổi đấu tập. Để tìm được địa điểm tập luyện bạn có thể hỏi những người giữ cửa ở khách sạn, nhà nghỉ. 

7. Ăn mì 

Mì là món ăn khá nổi tiếng trong  ẩm thực Nhật Bản. Bạn có thể thưởng thức mì ở các nhà hàng, quán ăn, thậm chí là mua về nhà. Để tìm được những điểm ăn mì ngon ở thành phố, bạn có thể tham khảo những bảo vệ của khách sạn, tòa nhà hoặc tìm kiếm trong những con ngỏ hẻm giữa các tòa nhà cao ốc. 

 

 

Tháng Tư mùa hoa Anh Đào nở rộ

Sakura – hoa Anh Đào được biết đến như biểu tượng của đất nước Nhật Bản và tháng tư hàng năm là mua nở rổ của loài hoa kiêu sa này. 

Cuối tháng ba, đầu tháng tư tại Nhật Bản thường diễn ra lễ hội Hanami, lễ hội ngắm hoa truyền thống nổi tiếng tại Nhật Bản mỗi độ xuân về. Đây là lễ hội lớn, có lịch sử hàng năm và đây được coi là quốc lễ của người Nhật. 

Vào thời điểm này, hoa anh đào hay còn gọi là Sakura sẽ đồng loạt nở rộ và tàn dần sau đó một tuần. Chính vì vậy, người Nhật và du khahcs khắp nơi trên thế giới sẽ đổ về các khu công viên trung tâm như công viên Matsumae (Hokkaido), công viên Ueno-onshi-koen (Tokyo), công viên Maruyama (Kyoto), công viên lâu đài Osaka (Osaka) và nhiều vùng núi nơi có loài hoa này để thưởng lãm.

Thời điểm lễ hội Hanami cũng là khi người dân Nhật Bản tạm gác lại công việc đang làm để hòa mình vào các bữa tiệc. Họ cùng nhau mở tiệc, uống rượu Sake, ăn bánh Sakura, ca hát, giao lưu, trò chuyện cả ngày lẫn đêm và không quên chụp ảnh dưới tán hoa anh đào. Truyền thuyết còn cho rằng, nếu cánh hoa rơi vào rượu Sake của ai đó, người đó sẽ gặp may mắn cả năm. 

Hoa anh đào được ví như cuộc đời của võ sĩ đạo Samurai. Hoa thắt nở, thoắt tàn khi bông hoa rụng xuống đất vẫn còn tươi nguyên và thoang thoảng mùi hương. Giới Samurai coi đây là biểu tượng cho cách sống của võ sĩ đạo. Khi cần bình thản hi sinh trong nụ cười, nhẹ nhàng như bông hoa về với đất. 

Dưới đây, là những hình ảnh tuyệt đẹp về loài hoa cao quý này : 

 

 

Cẩm nang ứng xử khi là nhân viên mới

Các bạn trẻ khi nhận nhiệm vụ mới đều rất phấn khởi với công việc được phân công cũng như các điều kiện chính sách mà công ty dành cho. Nhưng chỉ qua một thời gian ngắn, một số trụ lại được và thành công, số khác phải rời bỏ để tìm công việc khác. Lý do chính của hầu hết những người phải rời bỏ là không thích nghi được với môi trường làm việc.

Các bạn trẻ khi nhận nhiệm vụ mới đều rất phấn khởi với công việc được phân công cũng như các điều kiện chính sách mà công ty dành cho. Nhưng chỉ qua một thời gian ngắn, một số trụ lại được và thành công, số khác phải rời bỏ để tìm công việc khác. Lý do chính của hầu hết những người phải rời bỏ là không thích nghi được với môi trường làm việc.

Những cách sau sẽ giúp bạn ứng xử một cách tích cực trong mối quan hệ với đồng nghiệp:

Đừng tị nạnh so sánh với người khác

Nếu làm việc xuất sắc thì một ngày nào đó bạn sẽ trở thành sếp. Nhưng trước mắt, cho dù bạn giỏi, có bằng cấp cao hơn các đồng sự chăng nữa thì bạn cũng hãy đừng ảo tưởng và sớm nhiễm tính tị nạnh so sánh. Bạn có quyền kiêu hãnh một chút, đầy tự tin nhưng hãy khoan phân bì về khả năng, bằng cấp, chức vụ, lương bổng ? với người khác. Chính sự chủ quan, tự đắc là nguyên nhân khiến cho mọi người không thân thiện với mình.

Đây chỉ là điểm khởi đầu mà thôi, bạn hãy đừng vội phàn nàn về thu nhập hoặc khả năng của các đồng sự. Mà hãy thu thập kinh nghiệm, cố gắng thể hiện năng lực và đóng góp cụ thể các thành tựu cho công ty.   

Xử lý các khó khăn nhanh chóng

Bạn và đồng nghiệp không cần bắt buộc với phải thích nhau, nhưng các bạn phải tiếp tục làm việc với nhau một cách bình đẳng và cố gắng hết sức cho công việc. Hãy kiểm soát tình cảm và những cơn phẫn nộ tức giận của bạn bằng cách nên nghĩ trước khi nói và hành động. Chỉ cần một lời bình luận hoặc lời nói thiếu suy nghĩ có thể gây ra các hậu quả rất nghiêm trọng mà bạn không thể dự đoán trước được.

Không làm hết mọi việc cho đồng nghiệp

Không có gì sai khi bạn cởi mở, thân thiện và hay giúp đỡ người khác. Tuy nhiên đừng gây "ấn tượng" bằng cách làm các công việc của người khác trong khi bản thân họ không tự sắp xếp thời gian để làm.

Thiết lập các giới hạn

Thiết lập các giới hạn ở đây nghĩa là thiết lập các giới hạn nói về đời tư cá nhân và các chi tiết của cuộc sống bên ngoài công việc. Lời cảnh báo chung đối với tất cả mọi người: Để giữ hoà khí thân thiện thì tốt nhất là những quan điểm phán xét về tôn giáo, chính trị và đạo đức của bạn đều không nên nói lung tung.

Bạn có thể trò chuyện với các đồng nghiệp khi nghỉ giải lao uống cà phê hoặc ăn trưa nếu bạn muốn cập nhật thông tin. Không nên để cuộc trò chuyện trong thời gian làm việc kéo dài tới hơn 20 phút về một thứ gì hoặc một ai đó. Nhớ rằng bạn là một người làm chuyên môn và công việc của bạn là ưu tiên hàng đầu.

Thích nghi với môi trường làm việc

Khi bắt đầu làm việc trong môi trường mới, điều quan trọng là bạn phải học cách thích nghi với môi trường đó, nếu không bạn sẽ trở nên lạc lõng và tự cô lập mình. Có thể đây là điều quan trọng nhất. Bởi vì, có kỹ năng chuyên môn tốt, luôn cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ nhưng nếu bạn kém thích nghi, không hòa hợp với mọi người, bị thuộc vào nhóm nhân viên bị "tẩy chay" thì chỉ cần lỗi lầm, va vấp nhỏ cũng có thể trở thành vấn đề rất nghiêm trọng đối với bạn. Do đó, hãy dành chút thời gian chủ động tạo các mối quan hệ có lợi cho cả hai bên với các đồng nghiệp và gia đình của bạn. Chúng sẽ đem đến cho bạn rất nhiều lợi ích đấy.

Tóm lại, các bạn trẻ khi là nhân viên mới bắt đầu đi làm, cần chuẩn bị cho mình tính kiên nhẫn, tự tin, cầu tiến và khả năng làm việc tập thể. Đừng đòi hỏi quyền lợi cho mình quá nhiều hoặc tị nạnh so sánh với người khác mà hãy thể hiện giá trị bản thân, khả năng chia sẻ và sự đóng góp của mình. Chắc chắn là những nỗ lực của bạn sẽ được ghi nhận và tưởng thưởng xứng đáng.

Chúc các bạn có nhiều cơ hội thuận lợi hơn nữa trong công việc.

 

 

Hướng dẫn cách đi xe Bus ở Nhật Bản

I. Cách đón xe
Các trạm xe bus đều có ghi rõ hướng đi, các bạn có thể tra thời gian và hướng đi để đứng đúng trạm và đúng tuyến. Trường hợp không biết đọc Kanji hay vì lí do tiếng Nhật chưa rành, có thể dùng câu này để hỏi là nhanh nhất. すみませんが、このバスはABCまで行きますか? (ABC là địa điểm bạn cần đến nhé ). Nếu ok thì cứ đứng chờ xe bus tới là nhảy lên thôi.

II. Cách thanh toán tiền xe.

Thanh toán tiền xe có 4 cách:

1. Thanh toán bằng tiền mặt

2. Thanh toán bằng vé xe bus ( mua ở trạm xe )

3. Thanh toán bằng ID card ( mua ở trạm bán thẻ đi xe )

4. Thanh toán bằng thẻ trả trước ( ở trạm xe bus hoặc ở những nơi nào có máy bán tự động thẻ thanh toán với các mệnh giá 1000, 2000, 3000 …v.v.

Vậy thì bắt đầu nhé.

1. Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt.

khi bước lên xe, ngay cửa xe sẽ có 1 máy phát hành số trạm. Ví dụ như có số trạm từ 1>> 15 chẳng hạn. Trường hợp bạn lên xe, vé trạm đó là số 3, bạn cứ mạnh dạn rút thẻ đó ra và giữ đấy chờ khi đến nơi sẽ tính.

Tại sao lại phải lấy thẻ trạm, là để biết mình sẽ trả bao nhiêu tiền khi xuống trạm mình cần. Để ý sẽ thấy trên đầu của tài xế sẽ có 1 bảng điện tử có đánh số từ 1>> 15 ( ví dụ ). Khi bạn muốn xuống trạm kế, nhìn lên bảng đó xem số 3 có số tiền là bao nhiêu. Chẳng bạn như là 200 yên, thế là cứ bấm chuông, trước khi xuống bỏ 200 Yên và vé trạm vào máy tự động bên hông củ tài xế là ok.

Trường hợp không có tiền lẻ phải làm sao? Các máy thanh toán nay sẽ không thối tiền cho bạn đâu nha! Vì thế người ta có thiết kế sẵn hệ thống đổi tiền lẻ trên xe. Có khe đổi 500 Yên và 1000 Yen. Nhét tiền vào là tiền lẻ sẽ nhả ra thôi ( máy kế bên tài xế nhé )

2. Trường hợp thanh toán bằng ID Card và thẻ thanh toán trước.

Bạn có thể mua thẻ ở các trạm. Ở nơi khác tôi không biết, nhưng ở chỗ của tôi thì chi phí mua thẻ trả trước là 500 Yên + tiền trong thẻ lúc ban đầu là 1500 = 2000 Yên. Tất nhiên bạn sẽ có trong tài khoản của thẻ đó là 1500. ( Khi nào không cần sử dụng thẻ đó nữa thì lại trả người ta và người ta trả mình lại 500 Yên >>> mèo vẫn hoàn mèo

Khi lên xe, sẽ có 1 máy nhấp nháy báo hãy cho thẻ ID vào ( Nơi tôi ở là Paspy Card )

Khi bạn rà thẻ, máy sẽ báo số dư trong thẻ cho bạn để biết đường mà đi. Khi đến trạm thì tới trước cửa trước, quẹt thẻ ngay máy báo nhấp nháy là hệ thống sẽ tự trừ tiền cho bạn. Cứ thế xuống xe thôi.

Vậy thì khi sử dụng hết tiền trong thẻ làm cách nào để nạp tiền. Có 2 cách nạp.

a, nạp bằng cách chuyển khoản từ thẻ ATM sang thẻ nếu các máy ATM có hỗ trợ tính năng này

b, lên xe báo với tài xe xin nạp thêm tiền. Bạn sử dụng câu nói sau:

すみません、チャージをお願いします。

Tài xế sẽ hỏi bạn là bạn muốn nạp bao nhiêu. tuỳ bạn, bạn báo là 1000 hay 2000 gì đó, người ta sẽ mở chế độ nạp tiền, bạn cho thẻ quẹt bỏ lên, cho 1000 hay 2000 vào>>> Ok.

3. Thanh toàn bằng vé xe có mệnh giá cố định.

Cách lên xe giống mục 1. Ví dụ bạn có 1 vé mệnh giá 100 yên dùng cho đi xe bus. Khi xuống trạm số tiền là 150 Yên. ban5 cứ cho 1 vé 100 yên đó kèm theo 50 yên của bạn vào máy tính tiền là ok.

Hết phần đi xe bus. Chúc bạn đi xe an toàn và  các bạn nhớ là xe bus ở Nhật rất im lặng, không nên làm ồn, cũng như xuống xe chỉ cần bấm chuông và ngồi chờ xe dừng rồi hãy xuống nhé!

 

 

Văn hóa ứng xử của người Nhật hiện đại

Mỗi một đất nước, một vùng miền lại có một giá trị văn hóa và cách thức ứng xử khác nhau. Hiểu rõ về văn hóa và cách ứng xử của một đất nước trước khi chúng ta đến với đất nước đó chính là tôn trọng họ và tôn trọng chính bản thân mình. Các bạn đi xuất khẩu lao động theo dạng  thực tập sinh kỹ năng, du học sinh sang Nhật để lao động, học tập hãy cùng TMS tìm hiểu về cách thức ứng xử của người Nhật nhé. 

Lịch sử

Văn hóa ứng xử của người Nhật hiện đại phần lớn được cho là đã hình thành từ văn hóa thời kì Edo cho đến cận đại. Đây là thời kì dân cư tứ xứ tụ tập về Edo (Tokyo ngày nay) làm ăn sinh sống. Vì có nhiều người cùng nhau sinh sống trong một không gian chật hẹp nên để cuộc sống suôn sẻ, qua đúc kết mọi người tự đặt ra những qui tắc ngầm trong ứng xử . Nó được gọi chung là Edo shigusa.

Xã hội Nhật Bản hiện đại có một nền tảng quan trọng là chủ nghĩa cá nhân. Vì vậy trong cuộc sống điều tối kị là làm ảnh hưởng và xâm phạm đời tư của người khác. Bạn có thể làm gì tùy ý trong không gian riêng tự do nhưng ở nơi công cộng phải tôn trọng những qui tắc đã có. Một trong những quy tắc ứng xử đầu tiên cần phải học khi đến Nhật là giữ trật tự. Người Nhật rất ít khi tỏ thái độ nhưng nếu bạn gây ồn họ sẵn sàng nhắc nhở, thậm chí nối nóng. Điều này được cho là xuất phát từ việc Nhật Bản đất chật người đông, việc va chạm hàng ngày khó tránh khỏi nên họ luôn luôn chú ý cách cư xử của bản thân để tránh ảnh hưởng đến người xung quanh.

Quy tắc ứng xử chung

Ngày mưa, hai người cầm ô đi đối diện nhau sẽ nghiêng ô ra ngoài để tránh nước giọt sang ướt người đối diện.
Tuyệt đối phải đúng giờ. Việc không hẹn mà tới, trễ hẹn… gọi là kẻ ăn cắp thời gian của người khác.
Khi không may bị người khác dẫm phải chân thì cũng nói xin lỗi (Sumimasen). Giúp không khí bớt căng thẳng.
Qui tắc 7/3: dành 3 phần đường mình đi còn 7 phần dành cho xe khi khẩn cấp.
Những thói quen như: rung đùi, khạc nhổ v.v. được cho là rất bất lịch sự, cần sửa ngay lập tức.
Không được tự tiện cho số điện thoại, email, địa chỉ … của người khác mà không xin phép trước.

Nơi công cộng

Tất cả mọi người đều đứng bên trái (riêng ở Osaka thì đứng bên phải)

Trên một cầu thang cuốn, bao giờ cũng có một bên dùng để đứng và một bên dành cho người đi vì vậy tránh đứng cản đường đi của người khác. Ở Osaka thì mọi người đi bên phải, bên trái danh cho người vội. Còn ở đa số các vùng khác như Tokyo thì ngược lại, bình thường đi bên trái, người vội đi bên phải. Lí do là ở Osaka trước có rất nhiều khách nước ngoài đến du lịch và họ thường không biết quy định đi bên trái của Nhật và để chỉ dẫn cho họ đi theo thói quen của Nhật thì rất khó khăn chính vì vậy mà người Nhật ở Osaka đã thay đổi theo cách của người nước ngoài đến du lịch.


Người Nhật rất hay đeo khẩu trang, đặc biệt vào mùa cúm hoặc do bị dị ứng phấn hoa. Do đó việc đeo khẩu trang khi nói chuyện không bị coi là bất lịch sự. Ngược lại, nếu bạn bị ốm (cảm cúm, sổ mũi) hãy đeo khẩu trang để tránh lây nhiễm cho người khác.

Không nói to, cười đùa, bật nhạc ầm ĩ. Nếu có thấy người khác làm vậy thì cũng ko nên bắt chước theo.

Mùi cơ thể cũng là một điểm cần chú ý vì ở Nhật việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng rất phổ biến.

Người cùng giới đi ngoài đường không choàng vai bá cổ nhau.

Nơi ở

Ở Nhật, nhà ở thường là chung cư hoặc nằm sát gần nhau, tường khá mỏng nên rất dễ gây những tiếng động ảnh hưởng đến hàng xóm. Ban đầu bạn có thể chỉ nghe thấy tiếng gõ nhắc nhở nhẹ nhàng hoặc nụ cười trừ. Nhưng nếu không chú ý bạn có thể bị chủ nhà mời đi chỗ khác ở hoặc thậm chí có thể sẽ gặp rắc rối với cảnh sát.

 Vì vậy, hãy hạn chế tối đa tiếng ồn nhất là khi đã khuya:

Nhảy, đi lại mạnh trên sàn nhà.
Sập cửa khi ra vào.
Bật nhạc to.
Tụ tập bạn bè.
Tiếng xả nước, tắm lúc nửa đêm.
Dùng máy giặt, máy hút bụi vào buổi buổi đêm hoặc sáng sớm.

Nhiều nơi ở không cho phép nuôi thú nhỏ hoặc bạn sẽ phải trả thêm một khoản tiền nhất định để nuôi. Hãy xem kỹ hợp đồng thuê nhà hoặc hỏi văn phòng bất động sản trước khi mang thú nhỏ về nhà.

Vứt rác đúng ngày,giờ và vứt vào đúng chỗ quy định. Một số nơi có vài chỗ tập kết rác cạnh nhau nên hãy hỏi nhân viên của văn phòng bất động sản xem nên vứt vào chỗ nào cho đúng. Làm sai một trong những quy định trên có thể sẽ bị người dân xung quanh nhắc nhở, thậm chí có thể bị phạt tiền.

Trên phương tiện công cộng

Chỗ ngồi ưu tiên trên tàu ở Tokyo

Hầu hết trên các tàu và xe bus đều có những chỗ ngồi ưu tiên dành cho người già, người tàn tật, phụ nữ có mang hoặc có trẻ nhỏ. Khi không có ai bạn có thể ngồi nhưng hãy mạnh dạn đứng dậy nhường chỗ cho những người nói trên.

Hạn chế tối đa việc nói chuyện điện thoại. Nếu không có cách nào khác hãy cố gắng nói nhỏ.

Khi lên tàu, xe bus hãy chờ cho những người xuống tàu/xe ra hết rồi mới lên.


Ăn uống

Người Nhật khá cầu kì trong nấu nướng nhưng cũng sẵn sàng ăn tạm một món ăn nhanh vì tiết kiêm thời gian. Khác nhau về văn hóa dẫn đến nhiều món ăn của người Nhật cũng không hợp khẩu vị của người Việt và ngược lại. Việc khen một món ăn (dẫu không ngon) trở thành tính cách của họ trong giao tiếp. Vì vậy cũng cần chú ý khi mời người Nhật ăn. Việc tìm hiểu một món ăn công phu cũng là tìm hiểu thêm về văn hóa Nhật Bản.

Ngược lại với ở Việt Nam, ở Nhật (và ở Hàn Quốc) khi ăn các món bún, mỳ, miến mà phát ra tiếng "sụp soạp" thì không bị coi là bất lịch sự. Trái lại, người ta quan niệm tiếng "sụp soạp" đó tạo cảm giác ngon miệng.

Giống như ở Việt Nam, khi ăn cơm nên cầm bát cơm trên tay chứ đừng đặt trên bàn rồi cúi đầu xuống ăn.

Khi ngồi trong bàn ăn, không nên tự rót nước/rượu cho bản thân mà hãy rót cho người bên cạnh.

Trong các nhà hàng ăn tự chọn (buffet), ăn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Đừng lấy thật nhiều rồi bỏ thừa, như thế sẽ rất không hay, thậm chí bạn có thể bị phạt tiền.

Ở Nhật không có văn hóa tip (tiền boa). Việc bạn boa tiền có thể gây khó xử cho nhân viên nhà hàng do một số nơi có quy định nhân viên không được nhận tiền boa.

Trang phục

Nhật Bản là nơi khá tự do về ăn mặc, thời trang. Quần áo cũng đẹp và rẻ nên thay đổi theo mùa khá dễ dàng. Hãy mặc đồ sạch sẽ, gọn gàng, hợp phong cách.
Ở Nhật, phụ nữ thường ăn mặc kín đáo, hầu như không mặc hở ngực hoặc lưng. Duy chỉ có váy ngắn và quần ngắn thì không sao.

Giao tiếp

Việc chào hỏi nhau là một nghi thức không thể thiếu ở Nhật. Để đánh giá một con người, người ta thường đánh giá mức cơ bản nhất là biết chào hỏi hay không. Việc cảm ơn và xin lỗi trong mọi trường hợp là điều bình thường ở xã hội Nhật.

Không hỏi tuổi người đang nói chuyện với mình.

Không dùng ngón tay chỉ vào người khác.

Ngoài người yêu, vợ, chồng, con ra, không nên động chạm vào người đang nói chuyện với mình kể cả lúc thân mật cũng như lúc giận giữ, cãi cọ.

Tặng quà

Nên tránh tặng những món quá đắt tiền, xả xỉ. Tốt nhất hãy tặng những món quà hữu dụng, có giá trị vừa phải hay những món quà thủ công, mỹ nghệ mang từ Việt Nam sang.

Khi đang nhờ người Nhật một việc gì đó, tuyệt đối không được tặng quà. Người Nhật có tính tự trọng rất cao, làm như vậy sẽ bị coi như là "hối lộ" vậy. Thêm nữa, họ rất ngại việc nhận quà rồi mà lỡ không thực hiện được điều được nhờ.

 

 

Học “đổ rác” ở Nhật

Đến với Nhật Bản chắc chắn các bạn sẽ không bắt gặp những hình ảnh rác thải vứt đầy đường, vứt ở cột điện không đúng nơi quy định…Đơn giản, chỉ vì, đất nước hoa anh đào có những quy định về đổ rác và phân loại rác rất gắt gao. 
  
Các bạn thực tập sinh đi xuất khẩu lao động Nhật Bản tại TMS đều đã được học những bài học về phân loại rác. Hôm nay, hãy cùng xem các bạn được học những gì nhé. 

 Quy định đổ rác:

Phải đổ rác ra trong khoảng thời gian từ sáng sớm đến 8:30 sáng của ngày thu rác đã được quy định và phải bỏ ra nơi đã được quy định.

 Người Nhật Bản mỗi buổi sáng thức dậy ra khỏi cửa đều một tay xách cặp một tay xách túi rác. Trước khi đến cơ quan, nhiệm vụ của người đàn ông trong nhà là vứt rác vào thùng rác cố định hoặc máy thu gom rác đặt ở tầng 1. Thế nên người Nhật Bản mới nói đùa với nhau rằng, "ông xã chính là một cái máy vứt rác".

Trong những ngày ở Nhật Bản, chúng tôi còn để ý thấy rằng, những thùng rác được đặt trên đường phố hoàn toàn không nhiều. Những người Nhật Bản mỗi khi ra khỏi nhà cũng đem rác bỏ vào trong chính túi rác mà họ mang theo bên mình. Vì vậy nếu bạn đến các trung tâm mua sắm xa hoa của Nhật và bắt gặp những cô gái trẻ đẹp cầm những túi đựng rác đi shopping thì bạn cũng đừng kinh ngạc.

Phân loại rác:

Rác trong gia đình được phân loại thành 6 loại như sau

(1) Rác đốt được: 

[Loại rác]

Rác nhà bếp (các món nấu vụn, cơm thừa, vỏ trái cây, bã trà,vỏ trứng, rau thừa…), tàn thuốc lá, giấy vụn, đũa dùng một lần, tăm tre để xiên nướng, hộp giấy, cây cỏ, lá khô, bụi của máy hút bụi, hàng đồ da, gỗ vụn trong công việc làm tại nhà, băng vệ sinh, tã giấy…     

[Các điều cần lưu ý]

1.  Khi bỏ rác, bỏ vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl có bán bên ngoài… và buộc miệng bao lại trước khi bỏ rác.

2.  Rác nhà bếp phải được vắt hết nước, dùng giấy báo… gói lại trước khi bỏ vào bao.

3.  Gỗ vụn, cành cây trong vườn… phải được cắt ngắn cỡ 50cm, dùng dây cột bó lại trước khi bỏ ra.

(2) Rác không đốt được

[Loại rác]

Sản phẩm làm bằng nhựa cứng (chai chứa dầu gội đầu, hộp đựng bột giặt, bao được thức ăn, đồ chơi…) sản phẩm bằng nhựa dẻo, sản phẩm bằng nhựa vinyl, sản phẩm làm bằng nhựa ni lông, nhựa xốp, cao xu các loại (giày thể thao, giày ống cao, dép…), sản phẩm da nhân tạo, đồ gốm các loại, lưỡi dao cạo, bóng đèn điện, kính, lọ mỹ phẩm, thủy tinh pha lê, ô dù, ghế ngồi, bình thủy, lọ xịt, lon đựng sơn… 

[Các điều cần lưu ý]

a. Rác không đốt được phải cho vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.

b. Những thứ to lớn không thể bỏ vào bao tải được thì làm sao đừng rơi rớt đây đó.

c. Lọ bình xịt có thể gây nguy cơ nổ,cần phải cho xì ra hết khí bên tronng trước khi bỏ ra.

d. Khi bỏ vật nguy hiểm như lưỡi dao cạo… phải bọc trong giấy báo và ghi chữ “kiken=nguy hiểm”, xong cho vào bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.

(3) Rác tài nguyên

[Loại rác]

Giấy các loại (giấy báo, tờ rơi quảng cáo, giấy báo gói hàng, hộp đựng quần áo, hộp đựng giầy, hộp trống, thùng giấy carton…) quần áo (quần áo, vải vụn cũ ) lon rỗng (bia, rượu, nước giải khát, thức ăn đóng hộp, chai đựng sữa…), kính bể, chai, bộ đồ ăn (son, nồi, niêu, ấm nước, sắt vụn, xe đạp, gia cụ bằng sắt thép…), đồ điện gia dụng (tivi, máy giặt, tủ lạnh, dàn máy stereo, lò sưởi, bếp gas… một số rác loại này là thu có phí), mền nệm=Futon…      

[Các điều cần lưu ý]

a.  Lon va chai cho vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.

b.  Giấy các loại, quần áo các loại phải chia theo loại và buộc dây theo hình chữ thập, và giữ sao cho nó không bị mưa ướt khi bỏ ra.

c.  Chai và lon phải rửa một lần trước khi bỏ ra.

d.  Thuỷ tinh bể vỡ phải gói bằng giấy báo…, bỏ vào bao va ghi chữ “Garasu kiken=thủy tinh nguy hiểm” bên ngoài bao trước khi bỏ ra.

(4) Rác có hại

[Loại rác]

Pin, bóng đèn huỳnh quang, nhiệt kế.  

[Các điều cần lưu ý]

a. Cho vào bao nhựa dẻo hoặc bao nhựa vinyl trước khi bỏ ra.

b. Bên ngoài bao ghi rõ “Yugai gomi=rác có hại” trước khi bỏ ra.

c.  Lưu ý để không bỏ lẫn với rác tài nguyên trước khi bỏ ra .

Pin có chứa chất thủy ngân hữu cơ độc hại, do đó hãy bỏ vào bao trong có thể nhìn thấy bên trong và tuân theo cách bỏ đã được quy định.


(5) Rác cồng kềnh

[Loại rác]

Gia cụ các loại (bàn gỗ,ghế gỗ, tủ đựng quần áo, bàn kính trang điểm, giường, thảm cao cấp các loại, thảm thường các loại, tấm đệm…), cửa các loại (cửa ra vào, cửa giấy kiểu Nhật …)

(Chú ý) Rác lớn cồng kềnh là những đồ vật như nêu trên mà có kích cỡ khoảng trên 1m2  

[Các điều cần lưu ý]

a.  Khi mua cửa các loại…thì hãy yêu cầu người bán hàng thu nhận đồ cũ.

b.  Đồ gỗ có thể cắt ra thành từng tấm có mỗi cạnh dưới 50cm, bó lại và bỏ ra vào ngày rác đốt được.

c.  Rác lớn cồng kềnh bỏ ra trước cửa nhà hoặc bỏ ra nơi mà xe (tấn) có thể vào được.

d.  Bỏ rác theo chế độ xin bỏ rác bằng điện thoại. Tùy theo loại đồ vật, có trường hợp phải trả một khoản phí thủ tục thu hồi rác.

(6) Rác thu gom

[Loại rác]

Xe máy, chiếu tatami, lốp xe, dầu phế thải…

Một kinh nghiệm nhỏ cho các bạn tu nghiệp sinh : Nếu không có tiền sắm tủ lạnh, tivi….và những vật dụng cần thiết khác hãy ra…bãi rác. Đảm bảo các bạn làm hết 3 năm về nước đồ các bạn cũng chưa hỏng. 

 

 

Kinh nghiệm đi chợ rẻ ở Nhật Bản

Dành cho các bạn ở : Osaka, Nara, Kobe…

 

siêu thị rẻ nhất :  Gyomu ( 業務ス^パー) 

Hầu như ở siêu thị này cái gì cũng rẻ và có đủ mặt hàng của một số nước : Việt Nam, Thái Lan, Hàn Quốc…

Các bạn có thể mua nước mắm, mỳ tôm, phở ăn liền, phở khô, bánh đa nem… Ngoài ra, cá, thịt gà ở đây giá cũng rất mềm. Thỉnh thoảng còn có rau muống đấy.

Một số giá cả có thể tham khảo :

-          Phở ăn liền : 148 yên – 5 gói.

-          Nước mắm : Chai nhỏ 88 yên, chai lớn 148 yên.

-          Thịt gà : 58 yên/ 1gr

-          Rau muốn : 158 yên/ bó. (bó nhỏ đủ cho 1 người ăn).

Ngoài ra, ngày 3 hàng tháng có giảm 5% ở siêu thị và thỉnh thoảng vào ngày cuối tháng cũng có giảm từ 20% – 30% các loại thực phẩm trong ngày.

 siêu thị AEON

Các mặt hang Việt Nam có bán : Nước mắm, mỳ tôm, xoài, phở gói, bia 333, bia Sài Gòn, phở (120 yên/gói)…

Ở siêu thị này có hẳn một gian hang bán các thực phẩm khô của các nước trong đó có Việt Nam. Nếu bạn nhớ hương vị quê hương quá thì hãy rẽ vfo đây nha.

Ngoài ra,siêu thị này có cửa hang 100 yên, cửa hang ăn nhanh, shop quần áo…Và giá quần áo thì rất hay giảm.

Đặc biệt, thứ 3 hàng tuần : Đồ thực phẩm sẽ giảm hơn một nửa so với ngày thường.

 Trước 9h tối, những mặt hàng dán chữ đỏ 半額 lên sản phẩm thường giảm giá hơn một nửa so với bình thường. Các bạn du học sinh, tu nghiệp sinh mới sang thường bị bỡ ngỡ nên đây cũng là kinh nghiệm để giảm chi phí ăn uống của các bạn xuống đấy.

Siêu thị LIFE

Đồ ở đây nhìn tươi ngon hơn nhưng cũng bán đắt hơn,  nhưng thường từ 7h tối trở đi thì một số các mặt hàng sẽ được giảm giá 50% .

 Ngày bán rẻ nhất ở siêu thị là vào thứ 4 hàng tuần.

Tầng 1 bán quần áo, tầng 2 bán đồ gia đình. Ở đây quần áo và các đồ dung khác giảm theo mùa , thỉnh thoảng đi mua đồ gặp được đồ rẻ mà tốt lắm đấy.

Siêu thị Itoyokado

Siêu thị này bán rất nhiều loại đồ như siêu thị Aeon, tuy nhiên lại không có đồ Việt Nam.

Ngày giảm giá  của siêu thị là thứ 5 hàng tuần tuy nhiên thỉnh thoảng cũng có sự thay đổi. Thường quàn áo ở đây có khi giảm đến 90%, mùa giảm giá thường là vào tháng 9.

Bạn nào ở Nara thì còn thấy nhiều siêu thị này còn ở Osaka thì rất là hiếm gặp.

Siêu thị tamade (玉出)

thứ 2 hàng tuần đồ rất rẻ gần giống với GYOMU các mặt hàng ở đây thì gần như là giống nhau ..ko đắt  siêu thị hơi cũ kí tí ko được sạch đẹp như  Aeon, Life , nhưng với kinh tế eo hẹp thì sự lựa chọn siêu thị rẻ là sự lựa chọn tốt nhất hiii

 

Siêu thị mandai (万代)

đây là siêu thị cũng rẻ đứng sau Tamade và Gyomu . Vì chủ siêu thị là người Trung Quốc nên các đồ bán (thực phẩm) cũng hợp với khẩu vị người Việt hơn.

Chợ  Hàn Quốc  ở  Tsuruhashi -osaka bạn nào ở osaka thì chắc hẳn biết đến khu vực này. Đây là khu chợ hàn quốc có bán đủ thứ :  lòng non, tim , dạ dày … giá cả cũng rẻ các bạn muốn đến đây thì đi tàu Kintetsu nhé đến ga Tsuruhashi xuống ga là đến luôn chợ .

Siêu thị donkihote(ドン.キホーテ)

Đây là siêu thị bán đồ dùng gia dụng , các bạn có thể mua dầu gội đầu giá rẻ , sữa tắm , giấy ,bột giặt, sữa dưỡng thể có cả nivia,,và nước xả áo quần ….

Ngoài ra ở đây cũng có bán : Quần áo, đồ điện tử, dụng cụ vá xe đạp, săm lốp..

Ngày chủ nhật ở đây cũng có giảm giá đặc biết, tùy vào từng khu vực ở ngày giảm giá đặc biệt có thể khác nhau nhưng thường là ngày chủ nhật.

 

Ngoài ra :

- Đồ điện tử mua sắm ở khu vực osaka bạn có thể đến Namba(なんば): có thể đi  tàu ngầm, Kintetsu, hoặc jr đều được.  Đồ điện tử ở đây rất rẻ, bạn có thể tìm thấy đồ mình muốn dung.  Cách ga Namba chừng mấy phút đi bộ còn có một cửa hàng Trung Quốc chuyên bán : Thịt gà, ngan, gà non, tim, dạ dày, thịt chó…với giá cả phải chăng.

- Ở Nhật cũng có 1 số cửa hàng đồ cũ bạn thường thấy có biển hiệu (売ります、買います) :  Khi nhìn thấy bạn cũng có thể ghé thăm biết đâu lại tìm được cho mình sản phẩm phù hợp với giá rẻ. Đồ của Nhật rất là bền và chỉ khi còn dùng được thì họ mới bán nên bạn cứ yên tâm.

Siêu thị uniplo : Đây là siêu thị chuyên bán quần áo cho mọi đối tượng và thi thoảng có đợt giảm giá. Đồ ở đây khá là dẹp và có cả made in Vietnam nữa nhé.  Vào ngày tết hoặc tết xong đến ngày mở cửa sẽ có bán hộp đồ may mắn, người ra sẽ để rất nhiều thứ đồ vào một cái hộp hoặc túi quà với giá rẻ hơn bình thường. Người Nhật rất thích đi siêu thị ngày tết nhằm mong nhận được những phần quà như vậy.  Các bạn người Việt mình sang học  hay làm hãy canh thời điểm đi mua đồ cho rẻ nha.

Ở Tokyo tưởng chỉ có chợ châu Á ở Ameyoko (Ueno) là nhiều thực phẩm rẻ.

Chuỗi cửa hàng 肉のハナマサ bán rất nhiều và rẻ.Có cả lòng phèo, tai lợi, chân giò, gan – tim, … đủ cả.Bán cả tảng mà chỉ vài trăm Yên.

 

Mọi người tham khảo chuỗi cửa hàng ở đây:

http://www.hanamasa.co.jp/shop/index.html

 

Tiệm ở NishiShinbashi mình đã kiểm chứng ở đây:

http://www.hanamasa.co.jp/shop/tokyo/nishi-sinmbashi.html

 

Hanamasa có biểu tượng hình đầu con bò. Các bạn thực tập sinh ở gần ga Tsurukawa – đường Odakyu.

Ở đây các bạn có thể tìm mua nước mắm, tương thái, dưa chuột muối và một số loại đồ chuyên làm bánh sinh nhật như gato mộc ( chưa trang trí gì) các loại sokola vụn để đúc, nama cream bóp ra thành hình quả núi, dâu tây đông lạnh ( nếu trái mùa chứ mùa này đang mùa dâu tây)

Ngoài ra tên của nó là Niku Hanamasa nên thịt cũng khá rẻ. Bò úc và mĩ thường có giá 98 yên đến 120 yên 1 kí – gân bò cũng khoảng 120 yên.

Nếu không có Gyomu thì các bạn tìm đến Hanamasa cũng khá thú vị. 

Ngoài ra, một kinh nghiệm được rất nhiều các du học sinh, tu nghiệp sinh chia sẻ đó là mua hàng gần….hết hạn sử dụng. Nghe có vẻ hơi ghê, nhưng ở Nhật các bạn có thể yên tâm là không bao giờ họ bán hàng cho bạn nếu quá hạn sử dụng. Tuy nhiên, họ vẫn sẽ bán cho bạn những mặt hàng gần…hết hạn với giá rất rẻ.  Thường là còn khoảng 12h hết giờ , người ta giảm giá rất rẻ : có thể lên tới 90%.

Hãy cùng chia sẻ để các bạn đang sinh sống, học tập và làm viêc ở Nhật Bản đặc biệt là Vùng Osaka biết các bạn nhé.

 

 

Các ngày nghỉ lễ tết ở Nhật Bản

Có 15 ngày lễ được quy định bởi pháp luật Nhật Bản. Nếu như ngày lễ đó rơi vào ngày Chủ Nhật thì ngày thứ Hai kế tiếp sẽ là ngày được nghỉ bù.
(Hiện nay (2005) thì một số ngày nghỉ đã được chuyển cố định vào ngày CN và thứ 2 kế tiếp là ngày nghĩ bù).

1. Ngày mồng một Tết: Ngày mồng một tháng Một. Có khá nhiều công ty nghỉ từ ngày 30 tết tới ngày mồng 4 tháng 1.

 

tết năm mới tại Nhật Bản
 

2. Ngày lễ thành nhân: Trước đây là ngày 15 tháng 1 nhưng hiện nay được chuyển thành ngày Chủ Nhật thứ 2 của tháng 1. Đây là ngày lễ dành riêng cho các thanh niên tròn 20 tuổi.

 


3. Ngày Quốc khánh: Ngày 11 tháng 2. Theo như cuốn “Nhật Bản thư kỷ” thì đây là ngày Thiên hoàng đầu tiên của Nhật đăng quang, được tính sang dương lịch.

4. Ngày Xuân phân: Khoảng 21 tháng 3. Đây được coi là ngày lễ dành để ca tụng thiên nhiên và sinh vật sống.

 


5. Ngày Xanh: 29 tháng 4. Đây là ngày sinh của hoàng đế Chiêu Hoà. Sau khi ông ta mất thì người ta lấy ngày này làm ngày lễ giữ gìn màu xanh của cây cỏ.

6. Ngày Hiến pháp: mồng 3 tháng 5. Từ năm 1947 ngày này được lấy để kỷ niệm ngày hiến pháp Nhật được thiết lập.

7. Ngày lễ dân tộc: mồng 4 tháng 5. Đây thực ra không phải là ngày lễ đặc biệt gì cả, bởi vì ngày mồng 3 và mồng 5 là ngày nghỉ nên ngày này cũng được lấy làm ngày nghỉ.

8. Ngày thiếu nhi: mồng 5 tháng 5 (khác với nước ta là ngày mồng 1 tháng 6). Đây là ngày lễ để cầu mong cho sức khỏe và hạnh phúc của trẻ em. Ngày này còn được gọi là ngày lễ "Đoan ngọ", ngày lễ dành riêng cho trẻ em là con trai. Người ta thường treo cờ cá chép vào ngày này.

 


9. Ngày của biển: Ngày 20 tháng 7. Ngày dành để cảm ơn những gì mà biển đã ban tặng.

10. Ngày kính lão: ngày 15 tháng 9. Là ngày dành để tỏ lòng kính trọng đối với người già, được đặt ra từ năm 1966.

11. Ngày thu phân: Ngày 23 hoặc 24 tháng 9. Là ngày để tưởng nhớ về những người đã khuất và tỏ lòng thành kính với tổ tiên. Tương đương với ngày lễ xá tội vong nhân của nước ta. Chú ý rằng lịch trên là lịch dương nên nếu qui ra lịch âm thì trùng với ta.

12. Ngày thể dục thể thao: Ngày 10 tháng 10 (hiện nay chuyển thành ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng 10). Được thiết lập từ năm 1966 nhằm kỷ niệm cho Olympic Tokyo 1964, đây là ngày lễ nhằm khuyến khích phong trào luyện tập thể dục thể thao.

13. Ngày Văn hóa: Mồng 3 tháng 11. Ngày lễ khuyến khích cho sự trấn hưng và phát triển của nền văn hóa truyền thống. Được thiết lập từ năm 1946 nhằm kỷ niệm ngày hiến pháp Nhật được chính thức công bố.

 


14. Ngày lễ cảm tạ người lao động: Ngày 23 tháng 11. Là ngày lễ nhằm đề cao giá trị của sức lao động và cảm tạ cho một vụ mùa bội thu. Ngày lễ này thường được gọi là ngày lễ "Niiname sai", được tổ chức khi vụ mùa kết thúc, người dân dân hiến tặng những sản vật mới thu hoạch nhằm tỏ lòng kính trọng thánh thần. Ngày này tương đương với Thanks Giving của phương Tây.

15. Ngày sinh nhật của Nhật hoàng: Ngày 23 tháng 12. Là ngày lễ nhân dịp sinh nhật của Nhật hoàng Bình Thành hiện nay. Nó sẽ tiếp tục tới chừng nào Nhật hoàng còn sống và trị vì đất nước.

 

 

 

 

Cách ăn Sushi Nhật

Sushi là một trong những món ăn không thể thiếu trong các bữa cơm của người Nhật Bản. Đặc biệt là những ngày lễ truyền thống. Tuy nhiên, thưởng thức Sushi theo đúng cách để thưởng thức một cách trọn vẹn hương vị của nó thì không phải ai cũng biết. 

Sushi thường được cắt theo khoanh, dùng ngay sau khi dọn ra ăn kèm với wasabi, nước tương và gừng ngâm chua. Khi ăn sushi  thì thường được cho cả miếng vào miệng để cảm nhận trọn vẹn hương vị của từng khoanh. Ăn sushi đúng cách là khi cảm nhận vị là lạ của cơm trộn giấm, ngạy ngậy và mát của cá sống cùng vị cay nồng của wasabi xông lên mũi. 

Nguyên tắc ăn sushi

Có một số các nguyên tắc trong việc ăn sushi mà người ăn nên biết để có thể thưởng thức trọn vẹn món ăn. Hãy cùng tìm hiểu nhé: 

1. Hãy chấm cho đúng cách : khi ăn Nigiri Sushi (loại sushi được chế biến bằng cách đặt một miếng cá sống lên trên một phần cơm nhỏ), để thưởng thức trọn vẹn hương vị hãy chỉ chấm nhẹ nhàng phần cá vào nước chấm làm từ tương (xì dầu) chứ đừng chấm cả phần cơm vào nước tương.

cách ăn sushi đúng cách

2. Ăn theo thứ tự : ăn các loại sushi có cá theo màu từ nhạt tới đậm để có thể thưởng thức hết hương vị của các loại cá khác nhau. Các loại cá có màu đậm và có hương vị mạnh nên ăn sau cùng để tránh làm ảnh hưởng hương vị của các món ăn khác.

3. Dùng wasabi đúng cách : nếu đầu bếp không cho sẵn wasabi vào trong sushi, hãy xắt wasabi ra đĩa và đưa thẳng chúng lên trên bề mặt của sushi chứ đừng hòa lẫn wasabi với nước tương.

Cách ăn sushi đúng

4. Sử dụng gừng giữa các món khác nhau : đừng trộn lẫn gừng với sushi khi ăn. Gừng được phục vụ dùng để tẩy mùi món ăn trước trong vòm họng của bạn để có thể thưởng thức trọn vẹn hương vị của các món ăn sau. Do vậy, hãy chỉ sử dụng gừng ở giữa các món ăn.

5. Ăn sushi bằng tay : nguyên gốc của sushi là món ăn đường phố, vì vậy nếu có thể, hãy thử ăn sushi bằng tay nhé. 

Ăn sushi đúng cách - ăn bằng tay

6. Đừng tách rời miếng sushi : điều khó nhất trong việc làm sushi là chọn lượng vừa đủ cá, cơm và wasabi để trộn lẫn chúng với nhau, tạo nên một thể thống nhất, vậy nên, khi thưởng thức món ăn này.Đừng cố tách cá ra khỏi cơm nhé. 

Những lưu ý khi  ngồi ăn sushi

Có một vài lưu ý khi ngồi trong bàn ăn cùng người Nhật mà các bạn nên biết : 

- Không dùng đũa của mình để gắp thức ăn cho người khác. Nếu có, hãy quay ngược đũa nhé. 

- Khi đã ăn xong, hãy gác đũa lên kệ đặt song song với khay sushi để mọi người cùng biết. 

Ăn sushi đúng cách

- Để giữ vẻ thẩm mỹ cho đĩa thức ăn và lịch sự, hãy dùng miếng sushi theo thứ tự từ ngoài vào trong. Không nên gắp ngay miếng ở giữa đĩa. 

- Khi dùng sushi bằng chuyền trong nhà hàng : Hãy chọn món bạn muốn và thưởng thức.Mỗi đĩa được phân theo màu tương ứng với từng mức giá khác nhau. Ăn xong, hãy xếp đĩa thành chồng ngay ngắn ngay cạnh chỗ ngồi của mình.

Ngay tối nay, hãy cùng gia đình – bạn bè bước ra cửa hàng sushi và thưởng thức theo đúng cách các bạn nhé./.

 

 

Thói quen ăn uống của người Nhật

Để bắt đầu một bữa ăn, nhằm cảm ơn tới những người đã cất công chuẩn bị một bữa ăn cho mình, người Nhật thường nói "itadakimasu" nghĩa là "xin mời". Và sau khi ăn xong, họ lại nói cảm ơn một lần nữa "gochiso sama deshita" có nghĩa là "cảm ơn vì bữa ăn ngon.

Ngày nay, thói quen ăn uống của người Nhật đã bị Âu hóa rất nhiều. Rõ nét nhất là sự xuất hiện của bánh mỳ trong cách bữa ăn.  Trước đây, nhân viên công sở thường mang theo cơm hộp để ăn trưa tới nơi làm việc nhưng hiện nay các quán ăn gần công sở rất nhiều và có nhiều khẩu vị từ phương Tây cho đến truyền thống đáp ứng nhu cầu ăn uống ngày càng đa dạng hơn của người Nhật. 

Tại đa số các trường tiểu học, trung học của Nhật đều có phục vụ bữa trưa, được thiết kế với thành phần dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng và tất nhiên là có cả khẩu vị của các món ăn phương Tây lẫn khẩu vị truyền thống của Nhật. Các bữa ăn tối của người Nhật cũng thay đổi với nhiều loại món ăn bao gồm cả các món ăn Nhật, các món ăn Tàu và cả các món ăn của phương Tây. Nói chung thì trẻ em Nhật thích các món ăn phương Tây như là xúc xích (hamburger) hơn là các món ăn Nhật cho nên các món ăn tối tại nhà thường có xu hướng thay đổi cho phù hợp với khẩu vị của chúng.

Từ dùng để diễn tả bữa ăn ở Nhật là gohan . Từ này theo nghĩa đen để chỉ gạo được hấp hay đồ chín, nhưng gạo là một loại lương thực quan trọng đối với người dân sứ xở mặt trời mọc, nên gohan còn dùng để chỉ tất cả các món ăn. Một bữa ăn truyền thống của người Nhật gồm cơm cùng với một món chính là thịt hoặc cá, một vài món ăn thêm (thường là rau được nấu chín), súp (thường là súp miso), và rau muối. Gạo có tính kết dính khi nấu chín nên rất thích hợp với việc dùng đũa.


Đối với người dân Nhật Bản, việc sử dụng cơm trong bữa ăn là điều không thể thiếu, vì thế có rất nhiều người cảm thấy không thích thú với đồ ăn nhanh. Tuy nhiên, cũng có không ít người dùng bánh mỳ cho bữa sáng , các loại mì sợi cho bữa trưa. Bữa ăn của họ ngày càng có nhiều : thịt, bơ sữa và hoa quả hơn là gạo và lúa mì. 

Thói quen ẩm thực của người Nhật rất đa dạng cho nên rất khó nói là họ thích món ăn nào nhất. Tuy nhiên theo sự điều tra của các nhà hàng bình dân thì món ăn được gọi nhiều nhất là xúc xích, món ca ri (curry) với cơm, và mỳ ống (spaghetti). Những món ăn trên cũng được yêu chuộng nhất tại nhà. Trong con mắt của người nước ngoài thì Sushi (cơm nắm cá sống), Tempura (tôm, rau tẩm bột rồi đem rán), và Sukiyaki (món lẩu thịt bò với nước tương và rau) là các món ăn truyền thống của người Nhật thì tất nhiên rất phổ biến ở Nhật (tuy nhiên họ không ăn các món đó hàng ngày).


Đối với các món ăn từ cá, nếu như cá còn đủ tươi thì phần lớn người Nhật thích thái mỏng và ăn sống, đó là món Sashimi của người Nhật. Món này thường được ăn với xì dầu (Soy-sauce) và với cây cải ngựa đã băm nhỏ (Wasabi). Cá sống cũng thường được ăn theo kiểu Sushi, tuy nhiên để chuẩn bị món Sushi đòi hỏi những kỹ thuật đặc biệt cho nên người Nhật ít làm món này tại nhà. Cách chế biến phổ biến nhất của người Nhật là nướng cá với một ít muối rắc phía trên. Trừ cá nạc thịt như là cá ngừ Califoni thì tất cả các loại cá khác đều có thể chế biến theo cách này. Teriyaki là cách chế biến cá bằng cách ướp thịt cá đã lóc xương bằng nước xì dầu (Soy-sauce) và vừa phết mỡ vừa nướng. Đôi khi người ta cũng luộc cá với xì dầu (Soy-sauce) hoặc Miso hay bột đậu nành bằng lửa nhỏ. Những loài cá có nhiều mỡ như là cá thu thường được chế biến theo kiểu này. Tôm, cua, mực ống và các loại cá thịt trắng như cá hồi thường được rán kỹ, tức là chế biến theo món Tempura (tôm, rau tẩm bột rán). Các cách chế biến cá theo kiểu phương Tây như là món meunière cũng xuất hiện trong thực đơn của người Nhật tuy nhiên các món ăn truyền thống của Nhật thì vẫn được chế biến theo các cách đã nói ở trên.


Có rất nhiều thanh niên hiện nay không biết cách cầm đũa sao cho đúng. Lý do của việc này có lẽ là do thói quen dùng các món ăn phương Tây với dao và nĩa. Để cầm đũa đúng cách thì đầu tiên bạn hãy tách 2 cây đũa ra, sau đó để chúng song song với nhau trên ngón trỏ và dưới ngón cái. Đặt phần giữa của cây đũa trên giữa đầu ngón trỏ và phía trên phần móng ngón giữa, đặt ngón cái đè lên trên cây đũa trên đó. Dùng đầu ngón giữa và phần móng ngón đeo nhẫn giữ phần giữa của cây đũa phía dưới. Tận dụng nguyên tắc của đòn bẩy, bạn chỉ cần dịch chuyển cây đũa trên là có thể gắp thức ăn dễ dàng. Dùng đũa như nĩa hay để xọc thức ăn, mút đầu đũa, hoặc dùng đũa thay tăm bị coi là những thói quen xấu. Sự khác nhau giữa đũa Nhật và đũa Việt Nam: một điều chú ý là đũa Nhật khác đũa Việt Nam ở chỗ là đầu của đũa Nhật nhọn và nhỏ hơn rất nhiều so với phần trên của đũa.

 

 

Văn hóa công sở của người Nhật Bản

Văn hóa ứng xử của người Nhật luôn là những bài học quý giá dành cho mọi người.Kể cả văn hóa ứng xử trong công sở của họ cũng vậy. Hãy cùng điểm qua những bài học quý giá từ văn hóa công sở của xứ sởhoa Anh Đào này bạn nhé. 

1. Tôn trọng danh thiếp 

Người Nhật luôn bắt đầu một cuộc gặp gỡ bằng việc trao cho nhau danh thiếp một cách trang trọng theo đúng nghi lễ Meishi Kokan. Theo đó, khi nhận danh thiếp, người nhận sẽ dùng cả hai tay, cúi người thấp xuống để bày tỏ sự tôn trọng và đọc nội dung danh thiếp một cách cẩn thận. Sau đó, họ sẽ để danh thiếp vào hộp đựng và đặt trên bàn trước mặt họ trong quá trình nói chuyện. Họ không làm nhăn danh thiếp học bỏ trực tiếp vào túi áo, quần vì hành động đó đối với người Nhật là thể hiện sự thiếu tôn trọng. 

Việc trao đổi danh thiếp là thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau, cho thấy bạn đánh giá cao cuộc gặp gỡ hiện tại cũng như trong tương lai.

Trao đổi danh thiếp thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau  

2. Tôn kính “cây cao bóng cả” 

Ở Nhật, trong bất kỳ một cuộc họp nào, người ta thường dựa vào quan điểm và thái độ của người cấp cao nhất có mặt ở đó.Ở đây thể hiện rõ thái độ tôn kính và coi trọng đối với người có sự thông thái và từng trải, đóng góp nhiều cho công ty. Và không ai bày tỏ sự bất đồng với người này. 

Khi cúi đầu chào hỏi – truyền thống chào hỏi của người Nhật – người ta luôn cúi đầu thấp nhất trước người có địa vị cao nhất. Luôn biết lắng nghe những người có thâm niên hoặc có địa vị cao hơn bạn trong công ty. Nếu bạn bất đồng với người quản lý, hãy thể hiện điều đó với họ khi chỉ có hai người. Không bao giờ được tỏ ra nghi ngờ vai trò hay quyền lực của họ trước mặt các nhân viên khác.

3. Thấm nhuần động lực qua các khẩu hiệu 

Các công ty của Nhật thường bắt đầu ngày làm việc bằng một cuộc họp nhanh buổi sáng. Tại đó, nhân viên sẽ phải đứng lên và hô to khẩu hiệu của công ty như một cách truyền cảm hứng, động lực làm việc và sự trung thành. Cũng là cách làm tươi mới các mục tiêu của công ty trong tâm trí từng nhân viên. 

Hãy tự nhắc nhở bản thân mỗi khi ngồi vào bàn làm việc về công việc của mình. Mục tiêu lâu dài của bản thân và thường xuyên nhìn lại nó để lấy cảm hứng làm việc và tránh bị sao nhãng vào những việc riêng khác. 

Hô khẩu hiệu trước khi làm việc là cách tập trung vào công việc 

4. Làm việc nghiêm túc 

Người Nhật nổi tiếng là những người làm việc rất hăng say và thường xuyên rời khỏi văn phòng rất muộn. Và họ thể hiện tình cảm rất chừng mực. Rất ít khi thấy họ cười đùa hay thể hiện tình cảm ra ngoài đặc biệt là trong các cuộc họp. Họ không chạm vào cơ thể của đồng nghiệp và nói chuyện bằng giọng thấp, trầm, thường nhắm mắt lại khi thể hiện sự chú ý tới người nói. 

Đây là một bài học chúng ta nên chú ý, không cần thiết phải tạo không khí ngột ngạt cho nơi làm việc nhưng cũng nên có chừng mực và thể hiện sự chuyên nghiệp nơi công sở. Làm việc nghiêm túc cũng giúp tăng năng suất công việc của bạn. 

Làm việc nghiêm túc cũng là cách tăng hiệu quả công việc 

5. Sống vì tập thể

Người Nhật rất coi trọng giá trị tập thể, đối với họ cần đồng tâm hợp lực để đạt được kết quả cao nhất. 

Tinh thần đồng đội là yếu tố tiên quyết đối với sự thành công của một tập thể. Nếu quá coi trọng cá nhân, một doanh nghiệp sẽ thất bại vì mọi người chỉ quan tâm tới thành tích của riêng mình. Vì thế, vai trò tập thể là quan trọng luôn là mấu chốt để tạo nên một doanh nghiệp thành công.

 

Tinh thần làm việc tập thể là mấu chốt của sự thành công 

6. Làm hết sức, chơi hết mình 

Vì người Nhật rất tập trung cho công việc, nên họ thường chịu stress lớn. Và để giải tỏa công việc, họ thường chọn các quầy bar, karaokie để trút bầu tâm sự. 

Giải trí là một phần quan trọng không kém trong một ngày làm việc, giúp giải tỏa căng thẳng và giữ thăng bằng trong công việc. Bạn hãy nhớ, khi đi chơi hoặc làm bất kỳ việc gì với đồng nghiệp, bạn hãy luôn là một phần không tách rời của nhóm.

 

 

Những bí mật của người Nhật Bản

Có một câu nói về người Nhật Bản rằng : "Người Nhật giống như củ hành tây, cho dù có lột bao nhiêu lớp hành đi nữa cũng không biết được bên trong". Đối với những người đã từng tiếp xúc với người Nhật đều có cảm nhận đây là một dân tộc "đầy bí hiểm" và khó có thể hiểu thấu.  

Có rất nhiều những nghiên cứu và bài viết về sự thú vị của đất nước Nhật Bản này, mặc dù có rất nhiều nghiên cứu tuy nhiên, đối với đại đa số đều cho rằng "người Nhật thật khó hiểu".  

Những người tìm hiểu về Nhật Bản đều cảm thấy khó nhằn bắt đàu từ bảng chữ Hán Nhật (Kanji). Nhưng khi nhìn qua những kanji khó, nếu bạn biết được cách cấu tạo của nó thì bạn có thể dễ dàng hiểu được. Nếu vận dụng phương pháp này, bạn cũng có thể hiểu người Nhật hơn. Có thể nói hầu hết các hành động của người Nhật đều nằm trong một chìa khóa. Nếu bạn sử dụng chìa khóa đó, bạn có thể mở được bí mật trong hành động của người Nhật. 

Có phải người Nhật theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc?

Có một câu hỏi được đặt ra : " Ở Nhật bạn có cảm giác bị phân biệt đến nỗi không chịu được không?" thì đến 66% những người nước ngoài được hỏi đều trả lời là có. Và xu hướng phân biệt của họ là " Sùng bái Tây Âu, khinh miệt Châu Á". 

Văn hóa Tây Âu là văn hóa được người Nhật tôn sùng trong thời kỳ cận đại hóa. Trong thời kỳ trước, với hình thái nhỏ con thì thể hình và phong cách của người Tây Âu cũng là một trong những thứ người Nhật tôn sùng và ao ước có được. 

Tuy nhiên, người Nhật không có lòng tôn sùng châu Á. Cũng không có gì quá ngạc nhiên bởi lẽ, bản chất người Nhật là người châu Á. Họ tôn sùng tính ngoại và mong muốn học hỏi những thứ mới lạ.

Bản thân người Nhật có tính cộng đồng rất cao. Tính cách này đã được rèn giũa từ bé cho đến lớn và gần như mọi người đều có những hành động khá là giống nhau. Và chính vì có tính cộng đồng như thế nên người Nhật rất coi trọng lợi ích tập thể và đặt điều đó lên cao hơn cả lợi ích cá nhân của mình.  Với quan điểm sống khá là khác biệt với cách sống của bên ngoài như vậy nên không có gì khó hiểu khi phần đa những người được hỏi đều trả lời "có" với câu hỏi " Người Nhật có theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay không? " 

Có phải YES của người Nhật có nghĩa là NO?

Người Nhật khó nói được "NO" rõ ràng. Ngay cả khi từ chối họ cũng dùng lối khẳng định để giải thích. Ví dụ bạn mang sản phẩm đến công ty Nhật để bán, người phụ trách Nhật sẽ nói như thế này: “Tôi nghĩ đây là một sản phẩm tốt nhưng mẫu mã có chút vấn đề. Nếu mẫu mã tốt thì chẳng còn gì phải bàn. Thật tiếc! Nhưng tôi sẽ thử bàn lại với cấp trên xem. Nếu được, tôi sẽ liên lạc với anh”. Khi nghe như vậy, người nước ngoài hy vọng có được một cuộc gọi hứa hẹn. Nhưng rồi không có hồi âm gì khiến anh ta bối rối rồi đâm ra tức giận. Những câu trả lời đại khái như thế này phần lớn là “NO”!

Cách từ chối đặc trưng của người Nhật phân thành 3 giai đoạn là “YES, BUT, IF”. Trước hết là đứng trên lập trường của người đối diện mà dùng cách nói khẳng định. Sau đó thật lòng từ chối. Thêm vào đó, để người đối diện không bị tổn thương, người Nhật còn thêm vào vài câu có tính khả thi. Như vậy, chúng ta đã hiểu tại sao người nước ngoài không hiểu câu trả lời của người Nhật là “YES” hay “NO”.

Tuy nhiên, đối với người Nhật, “sự lờ mờ” không phải là khuyết điểm, đó lại là ưu điểm để đánh giá đối tượng. “Sự lờ mờ” không chỉ là “không nói rõ ràng”, nó còn có nghĩa là “không nói”, “nói ít”, hay “không bào chữa”.

Người Nhật có câu: “Dĩ tâm truyền tâm”. Nghĩa là: dù không giải thích ra, người ta cũng có thể hiểu được tâm trạng của nhau. Người Mỹ thì ngược lại. Vì là một đảo quốc di dân, có nhiều ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc khác nhau nên phải nói, nói và nói để người ta hiểu mình. Có thể nói đó là một thế giới cần nhiều lời nói để giải thích.

Khác với nhiều người phương Tây, nếu là người Nhật thì ngược lại, họ không bào chữa, tự nhận lỗi mình, như thế người Nhật mới cảm thấy thành ý. Hơn nữa, người Nhật cũng không đề cập đến chuyện bồi thường. Vì đối với người Nhật, sự thành thật quan trọng hơn. Ở Nhật, càng xin lỗi bao nhiêu, càng tỏ rõ thành ý bấy nhiêu thì mức bồi thường bị đưa ra cũng ít đi.

Cách giải quyết các vấn đề theo kiểu Nhật 

Người Nhật rất coi trọng chữ tín của đối tác. Các cuộc giao dịch vẫn thường xuyên bắt đầu mà không có ký kết giao kèo. Một khi đã có ký kết nghĩa là không tin tưởng vào đối tác và thường các cuộc giao dịch sẽ không thể thuận buồm xuôi gió. Đối với họ dù có soạn một bản giao kèo công phu đi chăng nữa mà đối tác không giữ đúng hợp đồng thì kết quả cũng bằng thừa. 

Ở Nhật người ta không đấu tranh đến cùng mà tìm ra điểm thỏa hiệp chung. Đôi khi họ cần đến người thương thuyết trung gian để giải quyết. Và khi giải quyết người ta sẽ tìm cách điều chỉnh ý kiến của nhau sao cho hai bên chấp thuận và giữ thể diện cho nhau. Do đó, khi kết thúc vấn đề tất cả mọi người ngồi vào bàn đàm phán đều  thấy mình là người thắng cuộc. 

 

 

Văn hóa “ngủ gật” của người Nhật Bản

Khi nhắc đến con người Nhật, chúng ta luôn nghĩ đến một dân tộc siêng năng, chăm chỉ với 3 chữ S điển hình : Smile, silent và sleep (cười mỉm, im lạng và ngủ). Trong đó, ngủ gật là điều thường xuyên được nhắc đến nhất. 

Trong hội nghị của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới FAO tổ chức tại Rome, hình ảnh một số thành viên trong phái đoàn Nhật đang gật gù trong giờ hội nghị khiến đại biểu các phái đoàn khác có cái nhìn không thiện cảm. Nhưng ít ai biết, "gật gù"  là hình ảnh của người Nhật xuất hiện ở mọi nơi mọi lúc. Trên xe điện, xe bus, trong thư viện, thậm chí là các hội nghị hội thảo và tranh luận của quốc hội. 

van hóa gật gù của người Nhật

Hình ảnh thường thấy trên các giảng đường đại học là các sinh viên gục xuống bàn ngủ trong giờ học. Cả giảng đường 70,80 người có lúc chỉ còn 7,8 người là còn tỉnh táo nghe giáo sư giảng. Và người ta đặt ngược lại một câu hỏi : " Liệu dân tộc Nhật có phải là dân tộc rất siêng năng và cần cù không?"

Trước thập niên 90, những câu khẩu hiệu thường xuyên xuất hiện nhất thường là "Hãy chiến đầu 24h mỗi ngày , hỡi các businessman, những businessman người Nhật". Đây là câu nói điển hình đặc trưng cho lối sống của người Nhật Bản. Mặc dù các viên chức Nhật đã có thể nghỉ 2 ngày cuooir tuần nhưng thời gian làm việc của ngày thứ 7 thường được chia đều cho các ngày trong tuần. Họ làm thêm giờ là chuyện rất ư bình thường. Chính vì lối sống như thế nên không có gì lạ khi họ gật gù ở mọi lúc mọi nơi. 

Trạng thái "gật gù" thường thấy nhất là ở trên cá phương tiện công cộng. Khi di chuyển trên các phương tiện này, người ta thấy cảm giác an toàn nên rất dễ rơi vào giác ngủ. Tại Tokyo và Osaka luôn có hệ thống xe điện chạy quanh thành phố. Nếu bạn có lỡ ngủ quên thì vẫn có thể ngủ tiếp để chờ xe điện vòng lại lần nữa. 

Tuy nhiên, vì sao chúng ta nói "ngủ gật " là văn hóa của người Nhật. Đơn giản vì bạn sẽ thấy rất ngạc nhiên khi một người đang say sưa gật gù lại có thể đứng bật dậy xuống đúng ga mình cần xuống, hay môt vị quan khách đang nhắm mắt tại hội thảo vẫn có thể tán thưởng khi bài phát biểu chấm dứt  và thậm chí còn phản biện lại rát hăng say. Như vậy, mặc dù gật gù nhắm mắt nhưng các giác quan khác của họ vẫn hoạt động bình thường, tai vẫn nghe được các thông tin, não vẫn xử lý những thông tin đó. 

Bạn có thấy, ngủ gật ở Nhật đúng là một nghệ thuật chưa?

 

 

Phong cách giao tiếp của người Nhật

Đã có rất nhiều những bài viết nói về văn hóa ứng xử của người Nhật. Tuy nhiên, để không bị coi là bất lịch sự trong khi giao tiếp với người Nhật không phải ai cũng nắm được. Và dưới đây là những nét đặc trưng của phong cách giao tiếp người Nhật. 

Trong công việc, người Nhật có ý thức rất rõ ràng về vị trí của mình. Khi đàm phàn một vấn đề, sau màn chào hỏi, người nắm giữ vai trò chủ nhà thường là người chủ động đi vào vấn đề cần bàn bạc trước. Lúc câu hỏi được đưa ra là lúc vấn đề chính thức được bắt đầu. Nếu bạn tạo ra những tình huống hài hước khi không khí đang trở nên ngột ngạt căng thẳng, đó sẽ là ấn tượng tốt đẹp mà bạn tạo được tuy nhiên nên dừng lại đúng lúc. Người Nhật thực thi nhiệm vụ hoặc đang suy nghĩ thì không nên đưa những ý kiến chệch vấn đề đang bàn bạc, nói những câu thiếu thông tin hoặc thắc mắc về đời tư. Với những câu hỏi như thế bạn sẽ bị đánh giá là người thiếu nghiêm túc và gây ác cảm với họ. 

Người Nhật rất coi trọng cái nhìn ban đầu, vì thế điểm cốt lõi là bạn phải tạo ra thiện cảm ngay từ đầu. Trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sông, công việc hay sinh hoạt, người Nhật không muốn bị lãng quên. Khi muốn làm quen hoặc giao dịch công tác, bạn phải chuẩn bị sẵn danh thiếp để giới thiệu về mình. Việc nhận danh thiếp như thế  nào đã được chúng tôi nôi rõ trong bài viết về văn hóa công sở Nhật Bản . Việc này giúp hai bên hiểu và dễ dàng nói chuyện với nhau hơn. Ngoài ra, người Nhật rất coi trọng việc đúng giờ. Họ tỏ ra khó chịu khi phải đơi và rất mất cảm tình với người sai hẹn. Nếu đang là người tìm  kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh, rất khó để có cơ hội thứ hai nếu ngay từ đầu đã sai hẹn. 


Trong khi người Châu Âu khi đi du lịch chỉ muốn chụp phong cảnh thì người Nhật muốn có một bức hình có mình trong đó. Bởi vậy khi đi tham quan một nơi nào đó nếu được tặng một bức ảnh chụp trong tư thế tự nhiên thì không gì bằng. Và đặc biệt họ rất thích chụp ảnh trong các buổi hội đàm, nhất là dưới hình quốc huy, quốc kỳ và lãnh tụ của nước sở tại. 

Người Nhật rất tôn kính Nhật hoàng nên xin đừng hỏi Nhật hoàng bao nhiêu tuổi, tính tình ra sao. Họ sẽ nghĩ ngay đến quốc thể bởi chỉ một câu sai ngữ pháp hay dùng nhầm từ của người tiếp chuyện. Nếu muốn cuộc tiếp xúc không tẻ nhạt thì bạn nên hướng tới chủ đề không ở đâu kiêng kỵ như thể thao, thời tiết, kinh tế, chứng khoán. 

Những người có quan hệ làm ăn chặt chẽ với người Nhật, chắc hẳn phải biết ở Nhật Bản các loại quà tặng được bán chạy nhất, nhì thế giới. Như luật bất thành văn, họ tặng nhau quà trong các ngày lễ tết hoặc khi có tin vui, thăng quan tiến chức. Việc gói quà tặng là cả một nghệ thuật, bạn nên nhờ nhân viên bán hàng làm giúp để tránh sai sót. Không nên tặng quà có số lượng 4 hoặc 9, những vật nhọn hoặc trà uống vì chúng tượng trưng cho điều kém may mắn tại Nhật.
 
Theo: Japannet.

 

 

10 nguyên tắc thưởng thức đồ ăn Nhật không phải ai cũng biết

Washoku – đồ ăn nhật đã trở thành một nét văn hóa phi vật thể của đất nước Nhật Bản được UNESCO công nhận. Nhưng không cần điều đó thì giá trị văn hóa ẩm thực Nhật Bản đã luôn được rất nhiều người biết đến. Tuy nhiên,thưởng thức đồ ăn Nhật như thế nào để được coi là đúng thì không phải ai cũng biết. 

1. Không trộn Washabi với nước tương 

Đây là cách ăn được phổ biến trên thế giới, nhưng đấy không phải là cách ăn đúng của Washabi.  Thay vào đó hãy chấm một ít washabi lên miếng Sashimi rồi chấm vào nước tương. Đây mới là cách ăn thưởng thức trọn vẹn vị cay nồng của Washabi tan trên đầu lưỡi kèm cùng với hương vị của miếng Sashimi. 

2. Không lật ngược nắp bát

Lật ngược nắp bát của bạn có thể gây ra hiểu lầm rằng bạn đã dùng xong bữa, tuy nhiên, cách xử lý đúng nhất là đậy nó lại trên bát, như khi nó được bưng ra bàn. Đơn giản là vì bạn có thể làm hỏng chiếc nắp khi úp ngược nó lại.

3. Không đặt vỏ sò trên nắp bát hay vào một chiếc đĩa riêng 

Khi được phục vụ món sò hay một loại đồ ăn có vỏ nào khác, nhiều người có thói quen đặt phần vỏ rỗng vào nắp bát hay vào một chiếc đĩa riêng khi họ ăn xong. Đây là một hành động không lịch sự và cần phải tránh; người ăn nên để phần vỏ này vào trong chính chiếc bát đựng món ăn.

4. Tránh việc cắn đôi thức ăn : 

Nói chung, bạn nên cố ăn mọi thứ chỉ bằng một miếng và tránh việc cắn đồ ăn làm nhiều miếng. Sẽ là bất lịch sự nếu đặt miếng đồ ăn dở trên đĩa, hãy lấy tay che miệng nếu miếng thức quá lớn.

5. Không được dùng tay để đỡ thức ăn rơi

Mọi người đều lầm tưởng đây là hành động lịch sự. Tuy nhiên, giữ bàn tay trái của bạn bên dưới đồ ăn để đỡ thức ăn rơi hay nước là thực sự một hành động xấu. Sử dụng tezara (手皿), hay việc đưa tay đỡ đồ ăn này, có vẻ khá lịch sự, tránh các sự cố rơi vãi đồ ăn hay các vết bẩn lên mặt bàn hay quần áo, nhưng thực ra đó là một thói quen ăn uống nên tránh khi ngồi dùng một bữa ăn kiểu Nhật.

6. Không cầm đũa trước khi bê thức ăn 

Khi tham ra một bữa ăn Nhật, đầu tiên bạn nên nhấc bát hay chén mà bạn sẽ dùng đến khi ăn trước, sau đó mới cầm đũa lên. Khi bạn chuyển sang dùng bát khác, thì đầu tiên là đặt đũa xuống, sau đó đổi bát. Chỉ sau khi bạn đã nhấc chiếc bát sau lên, bạn mới được phép cầm lại đũa.

7. Không đưa qua đưa lại hay chạm đũa vào thức ăn nếu bạn không gắp, và luôn ngừng lại khi ăn cơm

8. Không gác đũa trên miệng bát 

Bạn đã nhìn thấy điều này rất nhiều lần như thể nó là một điều đúng đắn, nhưng thực ra dùng bát như gác đũa là một điều không đúng quy tắc. Nếu bạn muốn đặt đũa xuống, bạn nên đặt nó lên trên gác đũa, hay hashioki (箸置き). Nếu không có gác đũa, hãy dùng bao đũa để gấp một chiếc gác đũa. Nếu bạn không biết cách gấp, bạn nên đặt đũa lên trên cạnh của một chiếc khay hay một cái gì đó tương tự trên bàn.

9. Không dùng đầu còn lại của đôi đũa để gắp thức ăn từ đĩa thức ăn

Bởi vì phần cuối của đôi đũa là nơi tiếp xúc với tay của bạn, nó không phải là nơi sạch sẽ và không nên dùng nó để gắp thức ăn. Hãy hỏi người phục vụ để lấy thêm một đôi đũa nữa hay nói một cách lịch sự. “jika bashi de shitsurei shimasu” (xin thứ lỗi cho tôi được dùng đũa riêng), và gắp thức ăn bằng đũa của bạn như bình thường.

10. Không được đưa thức ăn cao quá miệng

Nhiều người gắp, và đưa đồ ăn lên cao ngăng tầm mắt trong khi nói “itadakimasu” trước khi ăn. Tuy nhiên, các quy tắc xã giao lại nói rằng bạn không bao giờ nên đưa thức ăn lên cao quá miệng của bạn, đó là mức cao nhất mà đũa của bạn có thể đạt tới.

 

 

Ý nghĩa của truyền thống đón năm mới tại Nhật Bản

Đối với người nhật, dịp lễ mừng năm mới là sự kiện quan tọng nhất trong năm. Tập trung vào gia đình và truyền thống, rất nhiều người Nhật dùng ngày đầu tiên trong 3 ngày nghỉ mừng năm mới để vể quê và tham gia vào các lễ hội thấm đượm hàng ngàn năm văn hóa và ý nghĩa.
 
1. Sự khác biệt giữa Ganjitsu và Gantan: Vì sao lại có 2 cách để viết "Năm Mới" trong tiếng Nhật?

Cả 元日 (ganjitsu) và 元旦 (gantan) đều có nghĩa là "Ngày đầu năm" trong tiếng Nhật. Được dùng phổ biến trong thiệp Mừng Năm Mới để đánh dấu ngày đầu tiên trong bộ lịch của năm mới, có một sự khác biệt nhỏ trong ý nghĩa của 2 từ do chữ kanji khác nhau trong từng từ. Từ 日 trong 元日có nghĩa là ngày trong tiếng Nhật, mang ý nghĩa của "Ngày đầu tiên", trong khi từ 旦 trong 元旦 ý chỉ mặt trời mọc (bạn có thể thấy mặt trời hé mọc ở đằng Đông không?), nhấn mạnh ý nghĩa "mặt trời lên đầu tiên" – một hình ảnh đầy ý nghĩa, bởi người Nhật ngắm mặt trời mọc cùng bạn bè và gia đình vào lúc rạng đông của ngày mùng 1.

2. Sao lại có vật trang trí bằng tre và thông ở trước cửa?

Thời điểm bắt đầu năm mới là khoảng thời gian rất thiêng liêng, mang ý nghĩa tâm linh lớn đối với người Nhật, khi các vị thần Năm Mới được kể rằng sẽ từ trên trời giáng xuống trần gian. Để hoan nghênh các vị thần đến với mình, rất nhiều gia đình, cửa hàng và những miếu thờ dặt các đồ trang trí bằng tre và thông được biết đến là kadomatsu, ở cả 2 bên của lối vào. Vật trang trí, với vô số cây trúc biểu trưng cho trời, đất và con người, được tin là sẽ mời gọi các vị thần và đem may mắn đến khu vực của mình.

3. Tại sao quả quýt luôn được đặt trên bánh dày ngày tết?

Bánh truyền thống mừng năm mới của người nhật, là hai chiếc bánh dày được đặt chồng lên nhau, và thường được đặt một quả quýt lên trên cùng gọi là mikan. Đây thực chất là một tryền thống hiện đại, khi mà trước đây món bánh truyền thống này được đặt thêm một loại quýt khác gọi là daidai. Daidai được cho là biểu tượng của thắng lợi trong tương lai, khi mà nghĩa của từ này được dịch ra là "thế hệ nối tiếp thế hệ", thể hiện mơ ước của mỗi gia đình về tương lai lâu dài và thịnh vượng của các thế hệ con cháu. Tuy nhiên, quả daidai tương đối to và đắng, bởi vậy quả quýt mikan cân xứng hơn dễ ăn hơn được thay thế vào, và sử dụng rộng rãi hơn, trong khi vẫn giữ nguyên ý nghĩa cầu mong cho sức khỏe và trường thọ của daidai.

4. Tại sao lại có cái tên kagami-mochi hay "bánh dày gương"?

Chiếc bánh dày ngày tết cũng là một biểu tượng không thể không nhắc tới trong dịp năm mới cũng mang ý nghĩa mời gọi các vị thần. Chiếc bánh dày hình tròn thể hiện lòng tôn kính tới một trong các bảo vật thần thánh nhất ở Nhật, chiếc gương của nữ thần mặt trời Amaterasu. Theo như truyền thuyết, mặt đất chìm vào trong bóng tối khi nữ thần Amaterasu rời bỏ thế giới và trốn vào trong động. Nữ thần sau đó cũng rời khỏi động với một chiếc gương, cùng với đó là mang ánh sáng trở lại nhân gian. Với hình dạng tròn trịa, giống với chiếc gương, Kagami-mochi biểu tượng cho sự trở lại của ánh sáng và sức sống vào thời điểm bắt đầu một năm mới.

5. Tại sao đũa ngày lễ lại được vót cả hai đầu?

Đũa ngày lễ, hay còn được gọi là iwaibashi, được làm từ gỗ liễu, vốn được cho là một nguyên liệu thiêng liêng từ xa xưa. Phần tròn dày ở giữa đũa được cho là biểu trưng cho một tải rơm đầy, gợi đến một vụ mùa bội thu, trong khí đó hai phần đầu đũa đều được vót nhọn ý chỉ việc có thể dùng bất cứ đầu nào để ăn. Khi dùng những đôi đũa này, người dùng chỉ dùng một đầu để ăn, phần đầu còn lại ý để đảo ngược cho các vị thần hiện diện ở bữa tiệc dùng.

6. Ý nghĩa của việc uống rượu sake pha chế đặc biệt?

\

Theo đúng phong tục, được phục vụ vào ngày đầu năm, loại sake đặc biệt này được cho là để tẩy đi mọi đen đủi của năm cũ và mang đến sức khỏe cùng tuổi thọ cho năm mới. Được gọi là O-toso, kết hợp kanji 屠 (đánh bại) và 蘇 (linh hồn quỷ dữ), nhiều loại thảo dược được hòa vào với rượu được cho là có lợi cho tiêu háo và chóng cảm, cực kì thích hợp cho không khí lễ hội mùa đông của năm mới. Sake được rót ra từ một chiếc ấm bóng loáng, vào ba cốc nông kích thước khách nhau để mỗi thành viên trong gia đình nhấm một ngụm, theo thứ tự từ nhỏ tới lớn. Những vị khách tới chúc mừng năm mới cũng được gia chủ mới uống loại sake đặc biệt này như một cách chia sẻ ước mong khỏe mạnh trong năm mới.

7. Ý nghĩa ẩn trong những món ăn truyền thống ngày tết?

Osechi-ryori, là bữa ăn truyền thống trong dịp đầu năm ở Nhật, nó có lịch sử lâu đời từ thời Heian (794-1185). Ban đầu, nó được cho là điềm xấu khi nấu ăn trong nhà vào ba ngày đầu năm mới, bởi vậy, những hộp chứa đầy đồ ăn có thể để được được chuẩn bị từ ngày 31 tháng 12, để mọi người có thể thoải mái ăn uống trong ba ngày đầu năm mới. Mặc dù, vào thời điểm hiện tại, việc nấu ăn vào những ngày này không còn là một việc kiêng kị nữa, nhiều gia đình vẫn thích thưởng thức osechi-ryori, chủ yếu là vì những điềm may gắn liền với các loại nguyên liệu của nó:
Tôm (ebi) = phần ria dài cùng cái lưng cong tượng trưng cho sự trường thọ.

Bọc trứng cá trích (kazu no ko) = một nhúm trứng cá trích đỏ tươi tượng trưng cho con cháu khỏe mạnh, điều mà gia đình nào cũng mong muốn.

Đậu tương đen (kuro mame) = mame, cũng có nghĩa là "sức khỏe", là cầu mong cho sức khỏe trong năm mới.

Cá tráp biển (tai) = tai một cách bất ngờ là một phần của từ medetai, nghĩa là triển vọng tốt trong tiếng nhật.

Tảo bẹ (konbu) = konbu nghe na ná với yorokobu, nghĩa là hạnh phúc trong tiếng nhật.

Củ sen (renkon) = trong củ sen có vô số lỗ, cho chúng ta nhìn xuyên qua nó, và nhìn tới năm mới.

Theo : Vnsharing. net

 

 

Quy tắc vàng trong sử dụng đũa tại Nhật Bản

Các bạn thực tập sinh tại Nhật Bản không tránh khỏi những bữa ăn kiểu Nhật với người Nhật. Tuy nhiên, bạn nên biết rằng người Nhật rất nghiêm túc khi sử dụng đũa, họ không đơn giản chỉ coi đũa là một công cụ để cho thức ăn vào mồm. Trong một bữa ăn cùng người Nhật, nếu bạn không nắm được những nguyên tắc sử dụng đũa, đôi khi sẽ trở thành bất lịch sự. 

1. Không gắp thức ăn và cho thẳng vào mồm : 

Bạn hãy gắp thức ăn trên bàn mà bạn muốn ăn và đặt chúng vào bát hay đĩa của bạn trước khi ăn. 
Đừng gắp và cho thẳng vào mồm vì đối với người Nhật như vậy là bất lịch sự. 

2. Sử dụng gác đũa : 

Hầu hết tất cả nhà hàng Nhật sẽ có một cái gác đũa. Khi bạn không dùng đến đũa của mình nữa, hãy đặt nó lên cái gác đũa. 
Trong trường hợp là đũa dùng một lần, thì thường người ta không cầm cái gác đũa sang cho bạn. Vì thế, bạn nên gác đũa lên giấy bọc đũa. 
Tuyệt đối không đặt thẳng đũa lên bát cơm của bạn vì điều này chỉ diễn ra trong các lễ tang của Nhật. 

3. Không đưa đũa liên tục từ món này sang món khác

Không bao giờ cầm đũa đưa đi đưa lại từ đĩa thức ăn này sang đĩa khác trong khi đang suy nghĩ xem bạn muốn cái gì. Nó sẽ được coi là một hành động tham lam.
 

 

4. Không đảo thức ăn

Thức ăn phải luôn được gắp từ trên xuống dưới. Đừng dùng đũa đảo thức ăn lên để chọn những thứ tốt nhất. Đó là hành động tối kị trong nguyên tắc ăn uống của Nhật Bản. 

5. Không liếm đũa

Tuyệt đối, không bao giờ liếm đầu đũa ( Neburi Bashi). 

6. Những lưu ý khi gắp thức ăn cho người khác.  

Không bao giờ được đấu đũa khi gáp thức ăn cho người khác vì đây là nghi thức dùng trong lễ tang của người Nhật khi họ trịnh trọng dưa xương của người hỏa táng vào các bình tro cốt.
Nếu muốn gắp đồ ăn cho người khác bạn có thể gắp vào bát hoặc đĩa đựng thức ăn để trên đĩa của người ta. Cách tốt nhất là bạn nên gọi người phục vụ đưa thêm một đôi đũa nữa đặt ở giữa bàn ăn, khi muốn gắp đồ ăn cho ai hãy sử dụng đôi đũa này. 

7. Không dùng đũa để đùa nghịch. 

Khi bạn đang nói chuyện hay cầm đũa trong một thời gian dài mà không gắp thức ăn, không bao giờ được chà xát những chiếc đũa vào nhau sau khi bạn đã tách nó ra bởi vì đó là dấu hiệu bạn không coi trọng đôi đũa và coi nó là hàng rẻ tiền. 

8. Không gác đũa chéo nhau khi đặt trên bàn.

Xin nhắc lại một lần nữa , bạn cần đặt đũa vào gác đũa và phải chắc chắn rằng chúng được đặt song song với nhau. Đũa đặt chéo lên nhau là một điều nhắc nhở mọi người về lễ tang.

9. Không được khuấy canh bằng đũa.

Điều này trông có vẻ như bạn đang cố rửa sạch chúng. Điều này đôi khi khá hấp dẫn bở vì các nguyên liệu của canh miso không hoàn toàn quyện vào nhau. Hãy cố mà chống lại sự cám dỗ.

Nói chung, các quy tắc quan trọng cần chú ý là những quy tắc khiến mọi người liên tưởng đến một lễ tang. Đối với người Nhật, dùng đũa cũng có những quy tắc bắt buộc phải tuân theo trong nghệ thuật ẩm thực.

Nếu bạn cố hết sức thì rồi mọi việc sẽ ổn thôi, đừng quá căng thẳng vì những quy tắc và hãy cố điểu khiển đôi đũa của bạn. Đũa là một thách thức đối với tất cả mọi người và không phải người Nhật nào cũng làm chủ được môn nghệ thuật này.

Theo : VNsharing.net

 

 

Thông tin cần biết khi đi Malaysia

PHẦN A. THÔNG TIN CƠ BẢN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM – MA-LAI-XI-A

I. Khái quát chung:

- Tên nước: Ma-lai-xi-a (Malaysia).

- Thủ đô: Ku-a-la Lăm-pơ (Kuala Lumpur).

- Thủ đô hành chính: Pu-tra-day-a (Putrajaya)

- Vị trí địa lý: Ma-lai-xi-a nằm trong vùng Đông Nam Á có diện tích 329.847 km2.

-  Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 21-320C, độ ẩm cao.

Dân số: Khoảng 25,715,819 người (7/2009). Tỉ lệ tăng trưởng dân số: 1.723% (2009 est.)

Dân tộc: người Mã-lai (50,4%); người Hoa (23,7,0%); người Ấn Độ (7,1%); thổ dân (11%),  các dân tộc khác (7,8%).

- Tôn giáo: Đạo Hồi (60,4%); Phật giáo (19,2%); Thiên chúa giáo (9,1%), Hin-đu (6,3%); các tôn giáo khác (5,0%).

- Ngôn ngữ: Tiếng Mã-lai (quốc ngữ); tiếng Hoa (nhiều tiếng địa phương khác nhau); tiếng Anh (được sử dụng rộng rãi), tiếng Tamil và một số ngôn ngữ địa phương khác.
Ngày Quốc khánh: 31/8/1957.

- Đơn vị tiền tệ: Ring-gít Ma-lai-xi-a (Ringgit – RM), tỷ giá hiện nay 3,4 RM = 1 USD (2009    ); GDP (thực tế) 214,7 tỷ USD (2008); Thu nhập bình quân đầu người: 8141 USD năm 2008 (số liệu của IMF)

- Các lãnh đạo chủ chốt hiện nay:

 + Quốc vương: Toan-ku Mi-gian Giai-na A-bi-đin I-bơ-ni A-ma-hum Xun-tan Ma-mút A-mu-ka-phi Bi-la Sa (Tuanku Mizan Zainal Abidin ibni Al-Marhum Sultan Mahmud Al-Muktafi Billah Shah), nhậm chức Quốc vương thứ 13 của Ma-lai-xia từ ngày 13/12/2006).

 + Thủ tướng: Mohd Na-Gíp Bin Tun Ha-gi Áp-đu Ra-giắc (Dato’Seri Mohd Najib Bin Tun Haji Abdul Rajak), nhậm chức Thủ tướng ngày 03/4/2009.

 + Ngoại trưởng: Đa-túc A-ni-pha A-man (Datuk Anifah Aman), được bổ nhiệm ngày 9/4/2008. 
+ Chủ tịch Thượng viện: Áp-đun Ha-mít Pa-oan-tê (YB Tan Sri. Dato’ Seri Dr. Abdul Hamid Pawanteh) từ 07/7/2003 đến nay.

+ Chủ tịch Hạ viện: Tan Xơ-ri Đa-túc Pan-đi-ka A-min bin Ha-gi Mu-lia (YB Tan Sri Datuk Pandikar Amin bin Haji Mulia), từ 28/4/2008 đến nay, nhiệm kỳ 5 năm.
 

II. Lịch sử:

Từ thế kỷ 16 trở về trước, các tiểu vương quốc trên bán đảo Ma-lai-xi-a thường bị các vương quốc ở nam Thái Lan và In-đô-nê-xi-a đô hộ. Sau này các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh đã tới vùng này chiếm Ma-lắc-ca, Xa-ba, Xin-ga-po… Năm 1896, Anh lập Liên hiệp các quốc gia Mã Lai gồm các tiểu bang Pe-rắc, Xe-lan-go, Nê-gri Xem-bi-lan và Pa-hang. Một số tiểu bang khác (Giô-hô, Ke-đa, Pơ-li, Ke-lan-tan) cũng nhận sự bảo hộ của Anh mặc dù không tham gia Liên hiệp.
Năm 1941, Nhật chiếm bán đảo Mã Lai; năm 1946, Nhật đầu hàng. Anh định lập lại chế độ thuộc địa nhưng gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của nhân dân Ma-lai-xi-a. Năm 1948, Anh buộc phải ký với các tiểu vương hiệp ước thành lập Liên bang Mã lai, công nhận chủ quyền của các tiểu vương, trừ Pe-nang và Ma-lắc-ca trước là lãnh thổ của Anh, các bang này có Thống đốc bang.

Hội nghị Luân Đôn 1956 quyết định trao trả độc lập cho Ma-lai-xi-a. Ngày 31/8/1957 Liên bang Mã Lai trở thành quốc gia độc lập.

Ngày 16/9/1963, Bang tự trị Xinh-ga-po gia nhập Liên bang Mã lai. Đến năm 1965, quan hệ giữa Chính phủ Liên bang với Bang tự trị Xinh-ga-po trở nên căng thẳng và ngày 9/8/1965, Bang tự trị Xinh-ga-po tách khỏi Liên bang Mã Lai trở thành nước Cộng hoà Xinh-ga-po.
 

III. Thể chế chính trị:

1. Thể chế Nhà nước:

Nhà nước Ma-lai-xi-a là nhà nước quân chủ lập hiến, Quốc Vương đứng đầu quốc gia có nhiệm kỳ 5 năm, do Hội đồng Tiểu vương bầu ra và được lựa chọn trong số 9 Tiểu vương của 9 bang (có 4 bang Xa-ba, Xa-ra-oác, Pe-nang và Ma-lắc-ca không có Tiểu vương). 
2. Cơ cấu quyền lực của Nhà nước:

Quốc Vương là nguyên thủ quốc gia song chỉ có tính chất tượng trưng, quyền lực thực sự thuộc về Thủ tướng. Thủ tướng là lãnh tụ phe đa số tại Hạ viện, nhiệm kỳ 5 năm. 
Quốc hội Ma-lai-xi-a gồm 2 viện: Thượng viện (Dewan Negara) có 70 ghế, trong đó 44 ghế do Quốc Vương bổ nhiệm, 26 ghế do Viện lập pháp bang của 13 bang bầu, nhiệm kỳ 3 năm. Hạ viện (Dewan Rakyat) có 222 ghế, hoàn toàn do bầu cử với nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng và Phó Thủ tướng phải là hạ nghị sĩ, các bộ trưởng là thượng hoặc hạ nghị sĩ. Quốc hội là cơ quan lập pháp, làm luật của Liên bang; luật được áp dụng cho toàn Liên bang. Một dự luật cần được hai viện thông qua, sau đó phải được đệ trình lên Quốc Vương để xin chấp thuận, rồi trở thành luật.

Trong Quốc hội, Chủ tịch Hạ viện có quyền lớn hơn Chủ tịch Thượng viện.

3. Phân chia địa phương, lãnh thổ và địa giới hành chính:

Lãnh thổ Ma-lai-xi-a được chia thành 13 bang và 3 lãnh thổ Liên bang. Mỗi bang tương đương với cấp tỉnh, dưới bang là cấp quận (huyện), dưới quận (huyện) là cấp xã (thôn). Hiện nay ở Ma-lai-xi-a có 116 quận (huyện).

+ Phía Tây gồm 11 bang và 02 Lãnh thổ Liên bang gọi là bán đảo Ma-lai-xi-a, phía Bắc giáp với Thái Lan, phía Nam giáp Xin-ga-po và eo biển Ma-lắc-ca.
+ Phía Đông, còn gọi là Bô-nê-ô có 2 bang là Xa-ba và Xa-ra-oác và 01 lãnh thổ liên bang giáp với In-đô-nê-xi-a và Bru-nây

Hai khu vực này cách nhau 650 km qua Biển Đông.

+ 3 Lãnh thổ liên bang là 3 khu vực hành chính đặc biệt, bao gồm Thủ đô Ku-a-la Lăm-pơ, La-bu-an và Pu-tra-day-a. Các khu vực này thuộc chỉ đạo trực tiếp của Liên bang

.4. Đảng phái chính trị: Ma-lai-xi-a theo chế độ đa đảng.

a. Các Đảng trong Mặt trận Quốc gia cầm quyền (Barisan National-BN) gồm 14 đảng, trong đó có 3 đảng chính là:

- Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO), đại diện cho người Mã, thành lập năm 1946. UMNO lấy ngày 11/5 để kỷ niệm ngày thành lập đảng, là đảng lớn nhất, liên tục cầm quyền từ khi Ma-lai-xia giành độc lập tới nay, hiện có hơn 3 triệu đảng viên. Theo truyền thống, Chủ tịch và Phó Chủ tịch thứ nhất của Đảng giữ chức Thủ tướng và Phó Thủ tướng. 
- Hội người Mã gốc Hoa (MCA) là Đảng lớn thứ hai, đại diện cho tầng lớp tư sản người Hoa, lực lượng nắm kinh tế ở Ma-lai-xi-a .

- Hội người Mã gốc Ấn (MIC) là Đảng lớn thứ 3, đại diện cho cộng đồng người Ấn ở Ma-lai-xi-a.
Tại cuộc tổng tuyển cử ngày 9/3/2008, cán cân quyền lực đã thay đổi đáng kể khi Liên minh cầm quyền BN chỉ đạt 141/222 ghế, chiếm 64% trong Quốc hội (so với chiến thắng áp đảo 91% trong bầu cử năm 2004) và mất quyền kiểm soát tại 4 bang truyền thống là Pe-nang, Kê-đa, Pe-rắc, Xe-lang-go. Do đó, hiện BN chỉ còn kiểm soát 8 trong tổng số 13 bang. Tuy nhiên gần đây, BN đã giành lại được bang Pe-rắc do một vài đảng viên đối lập chuyển sang UMNO.

b. Các Đảng đối lập hợp pháp: có hơn 20 đảng, phần lớn là các đảng nhỏ. Tại cuộc tuyển cử ngày 9/3/2008, phe đối lập đã giành thắng lợi lớn, cụ thể: 
- Đảng Công lý Quốc gia (Keadilan) do vợ của cựu Phó Thủ tướng An-oa I-bra-him thành lập 4/1999 nhằm đấu tranh đòi tự do cho An-oa. Hiện ông An-oa giữ chức Chủ tịch Đảng kiêm Lãnh tụ đối lập trong quốc hội.

- Đảng Dân chủ Hành động (DAP), phần lớn đảng viên là người Hoa, có quan hệ với Đảng Nhân dân Hành động của Xinh-ga-po. Đây là đảng đối lập lớn thứ hai.
- Đảng Hồi giáo Ma-lai-xi-a (PAS), ly khai khỏi UMNO năm 1951, gồm những người Mã theo Hồi giáo cực đoan. Trước bầu cử tháng 3/2008, PAS từng là đảng đối lập lớn nhất. 
 

IV. Tình hình chính trị – kinh tế:

1. Về chính trị: tình hình Ma-lai-xi-a dần đi vào ổn định sau khi cựu Thủ tướng Badawi bàn giao chức vụ cho ông Najib Razak vào tháng 4/2009. Bên cạnh một số  thành công trong các nỗ lực cải thiện nền kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại và trấn áp phe đối lập, Chính phủ của Thủ tướng Najib vẫn phải đối mặt với một số vấn đề nội bộ trong Đảng Dân tộc Mã-lai thống nhất (UMNO), đảng nòng cốt trong liên minh Mặt trận Quốc gia cầm quyền (BN) và sự đấu tranh bền bỉ của phe đối lập với nòng cốt là Đảng Công lý Nhân dân (PKR) của cựu Phó Thủ tướng Anwar Ibrahim. Trong thời gian tới, Chính phủ Ma-lai-xi-a sẽ chú trọng xây dựng một xã hội thống nhất, xoá dần sự phân biệt về tôn giáo, tộc người (1 Malaysia concept).

2. Về kinh tế:

Ma-lai-xi-a là nước sản xuất và xuất khẩu dầu cọ và cao su hàng đầu trên thế giới, các ngành kinh tế phát triển mạnh là chế tạo, xây dựng và dịch vụ.
- Sau khi giành được độc lập (31/8/1957), Ma-lai-xi-a là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu. Những năm 1970, Ma-lai-xi-a thực hiện chính sách hướng Tây nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật. Đến đầu những năm 1980, Ma-lai-xi-a chuyển sang chính sách hướng Đông, chủ yếu tăng cường quan hệ với Nhật và một số nước NIC, nhằm học tập và tranh thủ vốn và kinh nghiệm để hiện đại hoá đất nước. Những năm gần đây, trong khi vẫn tranh thủ vốn, kỹ thuật và đầu tư của các nước phương Tây và các nước NICs, Ma-lai-xi-a đã thực hiện chính sách hướng Nam, tăng cường hợp tác với các nước đang phát triển để mở rộng thị trường. 
- Tốc độ tăng trưởng GDP của Ma-lai-xi-a trong giai đoạn từ 1970-1996 liên tục tăng và ở mức cao bình quân 6,7%/năm, cao nhất là năm 1990 là 9,8 %. Trong 2 năm 1997 và 1998, kinh tế Ma-lai-xi-a rơi vào khủng hoảng khá trầm trọng. Năm 1998, GDP là -6,7%, đồng ring-gít mất giá 65%. Tuy nhiên, nhờ có biện pháp khắc phục khủng hoảng đúng đắn trong đó có việc ấn định tỷ giá và kiểm soát vốn, nền kinh tế Ma-lai-xi-a từ đầu năm 1999 đến nay đã phục hồi khá nhanh. Tăng trưởng kinh tế (GDP) trong những năm gần đây khá ổn định, trung bình trên 6%/năm, riêng năm 2008 đạt mức tăng trưởng 5,1% do tác của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. 

- Tình hình kinh tế Ma-lai-xi-a có dấu hiệu phục hồi. Tốc độ tăng trưởng kinh tế quý 3 đạt -1,2% (quý 1 là -6,2%, quý 2 là -3,9%); đến tháng 10/09, dự trữ ngoại tệ đạt 96 tỷ USD; tỷ lệ thất nghiệp đạt 3,6%. Dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2009 là -2 đến -3% và khoảng 3% cho năm 2010. Chính phủ Ma-lai-xi-a đã thành công trong nỗ lực vực dậy nền kinh tế khi nhanh chóng chuyển hướng thị trường xuất khẩu từ các nước truyền thống như EU, Bắc Mỹ sang các thị trường khác như Châu Á, Trung Đông và đưa ra hai gói kích cầu trị giá khoảng 18 tỉ USD.

V. An ninh – quốc phòng:

 - Ma-lai-xi-a áp dụng chính sách phòng vệ độc lập kết hợp với hợp tác quân sự với bên ngoài, chú trọng bảo vệ những khu vực có lợi ích chiến lược của họ nhất là đường biển và vùng đặc quyền kinh tế. Ma-lai-xi-a là thành viên của Hiệp định phòng thủ FPDA (Five Power Defence Arrangement) gồm 5 nước Anh, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a. Sau khi Mỹ rút quân khỏi Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a đã ký với Mỹ “Hiệp định bảo đảm hậu cần, cung cấp cảng khẩu sửa chữa cho tàu quân sự Mỹ”.

- Lực lượng vũ trang của Ma-lai-xi-a gồm quân chính quy, quân dự bị và lực lượng dân quân tự vệ hợp thành. Quân chính quy hiện có khoảng 130.000 người, chia thành 3 quân chủng là Lục, Hải và Không quân. Bắt đầu từ thập niên 90, Ma-lai-xi-a tích cực mở rộng quân sự, chi phí quốc phòng đạt 1,55 tỷ USD, năm 1995 là 1,7 tỷ USD (đứng thứ 2 về chi phí quốc phòng trong số 6 nước ASEAN lúc đó) và năm 1997 lên tới 2,5 tỷ USD. Tỷ lệ tăng trung bình hàng năm là 26,4%, chiếm khoảng 11,6% ngân sách tài chính quốc gia. Gần đây, Ma-lai-xi-a tiếp tục chương trình hiện đại hoá các lực lượng vũ trang, nâng cao khả năng của quân đội nhằm đảm bảo cho Ma-lai-xi-a theo kịp với các lực lượng quân đội nước khác và có khả năng ngăn cản được sự xâm lược từ bên ngoài.

 VI. Đối ngoại:

- Mục tiêu chính sách đối ngoại của Ma-lai-xi-a là nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị vững chắc với các nước Đông Nam Á, thiết lập môi trường ổn định và hoà bình trong khu vực, đảm bảo và phát huy lợi ích kinh tế quốc tế của Ma-lai-xi-a thông qua việc thắt chặt quan hệ trực tiếp với các nước khác hoặc thông qua các diễn đàn đa phương, tăng cường hợp tác kinh tế với các nước đang phát triển thông qua sự ủng hộ mạnh mẽ và thúc đẩy quan hệ Nam-Nam.
- Trong quá trính triển khai chính sách đối ngoại của mình, Ma-lai-xi-a chú trọng quan hệ với các nước lớn Mỹ, Nhật, Trung Quốc, muốn duy trì sự có mặt của Mỹ ở Đông Nam Á để giữ cân bằng với Trung Quốc, nhưng chống sự áp đặt của Mỹ, công khai bất đồng với Mỹ trong vấn đề khu vực phi hạt nhân, đấu tranh với Mỹ và phương Tây dùng nhân quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Ma-lai-xi-a tỏ tích cực ủng hộ chống khủng bố nhưng cũng kiên trì đòi định nghĩa rõ ràng về chủ nghĩa khủng bố và nguyên nhân căn bản của nó, đồng thời phản đối việc lạm dụng chống khủng bố để can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ quyền.

 - Tại các diễn đàn quốc tế, Ma-lai-xi-a ủng hộ việc cải tổ bộ máy Liên hợp quốc, mở rộng Hội đồng Bảo an LHQ. Bên cạnh đó, Ma-lai-xi-a tích cực tham gia các hoạt động ủng hộ các nước Ả-rập, nhất là phong trào giải phóng Pa-le-xtin; tích cực hoạt động đề cao vai trò trong thế giới Hồi giáo. Liên quan đến cuộc tấn công của I-xra-en vào Pe-lét-tin vừa qua, Ma-lai-xi-a tích cực phản đối và vận động các nước ủng hộ Pa-lét-tin. 
- Ma-lai-xi-a là thành viên của LHQ, WTO, APEC, ARF, ECOSOC, ASEAN, ASEM, Phong trào Không Liên Kết (NAM), Tổ chức các nước Hồi giáo (OIC), Khối Thịnh vượng chung, G15 (nhóm 15 nước đang phát triển).

VII. Quan hệ Việt Nam – Ma-lai-xi-a:

Ngày 30/3/1973, hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Năm 1976, hai nước lập Đại Sứ quán ở thủ đô mỗi nước. Quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước hiện đang phát triển tốt đẹp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, lao động, an ninh, quốc phòng…. Tình hình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể như sau:
1. Hợp tác chính trị: Quan hệ Việt Nam-Ma-lai-xi-a hiện phát triển tốt. Hai bên tích cực trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao. Chủ tịch Thượng viện Ma-lai-xi-a thăm Việt Nam (5-7/01/09); Quốc vương Ma-lai-xi-a thăm chính thức Việt Nam từ 12-15/3/2009; Thủ tướng ta gặp Thủ tướng Ma-lai-xi-a bên lề hội nghị cấp cao ASEAN-Hàn Quốc (01/6/09); Ngoại trưởng Ma-lai-xi-a gặp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao ta bên lề cấp cao ASEM tại Hà Nội (24/5/09) và HNCC ASEAN 15 (23-25/10), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp Thủ tướng Ma-lai-xi-a bên lề cấp cao APEC (15/11/09), Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội thăm Ma-lai-xi-a (3-5/11/2009). Dự kiến Thủ tướng Ma-lai-xi-a Najib sẽ thăm Việt Nam trong năm 2010.

 Hai nước đã ký “Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21” nhân chuyến thăm Ma-lai-xi-a của Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 4/2004. 

2. Hợp tác kinh tế:

- Về thương mại: Kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng trưởng nhanh chóng. Ma-lai-xi-a hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 trong ASEAN và lớn thứ 9 trên toàn thế giới của Việt Nam. 10 tháng đầu năm 2009, kim ngạch thương mại 2 chiều đạt khoảng 3,4 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất 1,4 tỷ (giảm 13,6%) và nhập gần 2 tỷ USD (giảm 10,0%) tỷ. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Ma-lai-xi-a là dầu thô, gạo, cà phê, hải sản, dầu mỡ động thực vật…Việt Nam chủ yếu nhập khẩu sắt thép, xăng dầu, dầu mỡ động thực vật, chất dẻo nguyên liệu, máy móc thiết bị, máy vi tính và sản phẩm điện tử…Hai nước đã tổ chức thành công kỳ họp lần thứ nhất Tiểu ban Thương mại Việt Nam-Ma-lai-xia (12/11/2009). 

Ngân hàng Hong Leong của Malaixia là ngân hàng Đông Nam Á 100% vốn nước ngoài đầu tiên hoạt động ở Việt Nam.

 - Về đầu tư: Hiện Ma-lai-xi-a đứng thứ ba trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với những dự án rất lớn như dự án thép của tập đoàn Lion với số vốn đăng ký đạt 9,8 tỷ USD. Tính đến tháng 10/2009, Ma-lai-xi-a có 337 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 18,06 tỷ USD (đứng thứ 3 sau Hàn Quốc và Đài Loan). Ta đầu tư vào Ma-lai-xi-a 7 dự án với số vốn 812, 427 triệu USD. Đầu tư của Ma-lai-xi-a ở Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực như xây dựng, điện, nước và khí ga, cơ khí và ngân hàng.
3. Hợp tác an ninh-quốc phòng: đang ngày càng phát triển cả trên cơ sở song phương và trong khuôn khổ ASEAN giúp đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên.
- Về An ninh: Quan hệ giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Ma-lai-xi-a chính thức được thiết lập tháng 4/1994. Năm 1998, Tổng cục Tình báo Bộ Công an đã lập quan hệ hợp tác với Cơ quan Tình báo Ma-lai-xi-a. Hai bên trao đổi một số đoàn. 
- Về Quốc phòng: Từ năm 1998, hai nước đã mở văn phòng Tuỳ viên quốc phòng tại ĐSQ mỗi nước. Hai nước đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng song phương năm 2008. Hai nước chú trọng tăng cường các hoạt động nhằm triển khai Ghi nhớ về “Hợp tác Quốc phòng song phương” ký tháng 8/2008 nhân chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh; tích cực trao đổi các chuyến thăm lần nhau. Đoàn Tư lệnh Hải quân Ma-lai-xi-a thăm Việt Nam (tháng 2/2009). Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nguyễn Khắc Nghiên thăm Ma-lai-xi-a tháng 6/2009. Tàu thuyền hai nước ghé thăm cảng của nhau (02 tàu Ma-lai-xi-a thăm cảng HCM từ 2-5/10/2009; 2 tàu của ta sang thăm và giao lưu tại Ma-lai-xi-a từ 14-17/10/2009).

4. Hợp tác giáo dục: Hai nước ký MOU về hợp tác giáo dục trong chuyến thăm chính thức Ma-lai-xi-a của Thủ tướng Phan Văn Khải tháng 4/2004. Hàng năm Ma-lai-xi-a cấp học bổng đại học và cao học cho sinh viên ta; tổng số học bổng tính đến năm 2007 là 74 suất (bao gồm học bổng chính phủ và học bổng do các tập đoàn kinh tế lớn của Ma-lai-xi-a như Petronas cấp). Bên cạnh đó, theo chương trình hợp tác thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước ASEAN, Ma-lai-xi-a dành cho Việt Nam khoảng 20-30 học bổng ngắn hạn mỗi năm. Tính đến nay có khoảng hơn 300 lưu học sinh đang học tập và nghiên cứu tại Ma-lai-xi-a (trong đó có khoảng 150 người qua kênh của Bộ Giáo Dục và Đào tạo).
5. Hợp tác lao động: Chính phủ Ma-lai-xi-a chính thức mở cửa thị trường lao động cho ta từ năm 2002 và nhất trí đưa vấn đề lao động thành một lĩnh vực hợp tác mới giữa hai nước. Hai nước đã ký Thoả thuận (MOU) cấp Chính phủ về hợp tác lao động vào 01/12/2003. Đây tiếp tục là lĩnh vực hợp tác tiềm năng của hai nước. Trước tác động khủng hoảng kinh tế tài chính vừa qua, số lao động của ta sang Ma-lai-xi-a cũng bị ảnh hưởng (từ đầu năm 2009 đến nay giảm khoảng hơn 2800 lao động. Gần đây, bạn bắt đầu mở lại thị trường lao động cho ta trong lĩnh vực điện tử. 

6. Hợp tác trên biển: Ma-lai-xi-a đang tích cực phối hợp với ta chuẩn bị tốt báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý (hai nước đã hoàn thành báo cáo này ngày 6/5/2009 và trình lên LHQ lần 1 ngày 27/8/09).

7. Về hợp tác trong một số lĩnh vực khác:

 - Dầu khí: Petrovietnam đã có quan hệ hợp tác với Công ty dầu khí quốc gia Ma-lai-xi-a (Petronas) trên 15 năm trong tất cả các lĩnh vực của ngành công nghiệp dầu khí từ tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến đến phân phối sản phẩm. Petronas luôn được đánh giá là một trong các đối tác chiến lược quan trọng của Petrovietnam.

 - Về việc triển khai tham gia Hiệp hội sản xuất cao su gồm Ma-lai-xi-a, Thái Lan và In-đô-nê-xia (TRC), phía Ma-lai-xi-a nói sau này khi TRC đã đi vào hoạt động ổn định, sẽ mời Việt Nam và một số nước sản xuất cao su khác tham gia.

- Về lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Ma-lai-xi-a là thị trường nhập khẩu hàng nông sản và thủy sản ổn định của Việt Nam.

 - Về lĩnh vực dầu ăn, sản xuất chai lọ thuỷ tinh, may mặc, thuốc lá, hoá chất: hai bên đã thành lập được nhiều công ty liên doanh trong các lĩnh vực này và hiện hoạt động rất hiệu quả.

- Về xuất nhập khẩu than: mỗi năm tập đoàn than, khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) xuất được khoảng 135.000 tấn than sang Ma-lai-xi-a

- Về Văn hóa: Hai nước tiến hành trao đổi các đoàn nghệ thuật biểu diễn nhân các dịp lễ của hai nước và trao đổi các đoàn cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực thư viện và di sản văn hóa. 
- Về thể dục-thể thao: Việt Nam và Ma-lai-xi-a là các nước thành viên của Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á, thường xuyên có quan hệ hợp tác chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực về thể dục thể thao như trao đổi đoàn, thi đấu, tập huấn, trao đổi chuyên viên, huấn luyện viên, vận động viên, tham gia các khóa đào tạo, tham dự hội nghị về thể dục thể thao được tổ chức ở mỗi nước.

 - Về du lịch: Kể từ khi hai nước miễn thị thực cho công dân mang hộ chiếu phổ thông, lượng du khách Ma-lai-xi-a đến Việt Nam tăng nhanh (năm 2006 là 105.558 lượt; năm 2007 là 153.507 lượt, năm 2008 là 174.008 lượt, tính đến tháng 11/2009 là 146.206 lượt). Bên cạnh đó, hiện Ma-lai-xi-a có 12 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn đăng ký 257,4 triệu USD.

VIII. Các cơ chế hợp tác:

 Ủy ban hỗn hợp: thành lập tháng 9/1995. Đến nay đã họp 4 phiên (Lần 1 vào tháng 9/1995 tại Kuala Lumpur, lần 2 vào tháng 10/1996 tại Hà Nội, lần 3 vào tháng 3/2002 tại Kuala Lumpur, lần 4 vào tháng 3/2006 tại Hà Nội)

IX. Các chuyến thăm cấp cao:

- Về phía ta có : Tổng Bí thư Đỗ Mười (3/1994); Chủ tịch nước Trần Đức Lương (18-20/3/1998); Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1/1992, 7/1992 và 5/1994); Thủ tướng Phan Văn Khải dự Hội nghị cấp cao APEC (11/1998) và thăm chính thức (21-23/4/2004); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (9/1996); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (12/2002). Chủ tịch nước Trần Đức Lương dự Hội nghị cấp cao KLK (24-25/2/03). Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Độc lập của Ma-lai-xi-a (30/8 – 01/9/2007); Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh (13-16/8/2008); đồng chí Phạm Quang Nghị, UVBCT, Bí thư thành uỷ Hà Nội (18-20/9/2008); Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nguyễn Khắc Nghiên dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao thăm hữu nghị chính thức Inđônêxia và Ma-lai-xi-a (21-27/6/2009), Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội thăm Ma-lai-xi-a (3-5/11/2009)

- Về phía Ma-lai-xi-a có: Quốc vương Tuanku Abdul Rahman (12/1995); Thủ tướng Mahathir (4/1992, 3/1996 và Hội nghị Cấp cao ASEAN 6 tại Hà Nội 12/1998); Chủ tịch Thượng viện (11/1991); Tổng thư ký UMNO (7/1995 và dự Đại hội Đảng 8 của ta 7/1996) – là cấp cao nhất của các đảng cầm quyền trong các nước ASEAN dự Đại hội 8 của ta; Quốc vương Tuan ku Xi-ét Xi-ra-giu-din (12-16/12/2002) và Thủ tướng Áp-đu-la Ba-đa-uy (26/01/2004); Ngoại trưởng Xi-ét Ha-mít An-ba (thăm và chủ trì kỳ họp lần thứ 4 của UBHH hai nước từ 8-9/3/2006); Bộ trưởng Công thương Muhyiddin Yassin (27-29/7/08), BTNG Ma-lai-xi-a Rais Yatim (11/08), Chủ tịch Thượng viện (5-7/01/2009), Quốc vương Ma-lai-xi-a (12-15/3/2009).

X. Các Hiệp định, Thoả thuận:

Đến nay 2 nước đã ký 13 Hiệp định hợp tác trên nhiều lĩnh vực gồm: Hiệp định về các chuyến bay giữa và qua lãnh thổ hai nước (15/10/1978); Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư (21/1/1992); Hiệp định Hàng hải (31/3/1992); Hiệp định về Hợp tác Kinh tế, Khoa học và Kỹ thuật (20/4/1992); Hiệp định Hợp tác Bưu điện và Viễn thông (20/4/1992); Hiệp định Thương mại (11/8/1992); Hiệp định Thanh toán Song phương giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Quốc gia của Ma-lai-xi-a (3/1993); Hiệp định Hợp tác Khoa học, Công nghệ về Môi trường (12/1993); Hiệp định về Hợp tác Du lịch (13/4/1994); Hiệp định Hợp tác Văn hoá (4/1995); Hiệp định tránh đánh thuế song trùng (7/9/1995); Hiệp định Hợp tác Thanh niên và Thể thao (14/6/1996); Hiệp định về Miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông (25/9/2001). Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21 giữa Việt Nam và Ma-lai-xi-a (22/4/2004). 
Ngoài ra hai nước còn ký một số Bản Ghi nhớ (MOU): MOU về việc Ma-lai-xi-a viện trợ cho Việt Nam 1,72 triệu RM (700.000 USD) để phát triển ngành cao su (1992); MOU về thăm dò khai thác dầu khí ở những vùng chồng lấn giữa hai nước (6/1992); MOU về hồi hương người tị nạn (24/1/95); MOU về hợp tác thông tin (4/7/95) và MOU lập Uỷ ban Hỗn hợp hai nước (9/1995); MOU về Tuyển dụng lao động Việt Nam (12/2003), MOU về Hợp tác giáo dục (4/2004); MOU về Hợp tác Thông tin và Viễn thông; MOU về hợp tác quốc phòng (8/2008); Bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Negara Malaysia về việc trao đổi thông tin liên quan đến rửa tiền (7/10/2009).  

PHẦN II. THÔNG TIN ĐI LẠI

Thủ đô: Kuala Lumpur và Putrajaya
Ngôn ngữ: tiếng Mã Lai
Quốc khánh: 31/8/1957
Tiền tệ: Ringgit Malaysia (RM)

A. NHẬP CẢNH

1. Sân bay

Có 6 sân bay quốc tế: Kuala Lumpur, Penang, Langkawi, Kota Kinabalu, Kuching và Johor Bahru và 14 sân bay nội địa.

2. Thủ tục nhập cảnh

Đối với diện nhập cảnh bằng hộ chiếu phổ thông:

  • Cần chú ý chuẩn bị trả lời những câu hỏi: vào Ma-lai-xi-a với mục đích gì, thời gian cư trú, địa chỉ nơi cư trú. Có thể nói bằng tiếng Anh hoặc tiếng Trung Quốc phổ thông, trong trường hợp không nói được ngoại ngữ cần cho biết tên số điện thoại người thân (nói được các thứ tiếng trên).
  • Nhập cảnh cần chú ý: nên có thái độ hợp tác với cơ quan xuất nhập cảnh nước sở tại. Họ có quyền từ chối cho bạn nhập cảnh nếu bạn không có thái độ hợp tác, dù bạn có đầy đủ giấy tờ nhập cảnh.

Đối với người nhập cảnh theo diện lao động cần chú ý:

Theo Ban Quản lý lao động và chuyên gia Việt Nam, lao động nước ngoài nhập cư vào Ma-lai-xi-a, nếu không có thị thực do Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán Ma-lai-xi-a tại nước gửi lao động cấp thì phải nộp 500 RM cho Cơ quan nhập cư . Trường hợp không chấp hành, lao động sẽ không được cấp thị thực cư trú và giấy phép làm việc.

3. Thủ tục hải quan

Hạn chế về số lượng đối với một số hàng hoá nhập cảnh:

  • Rượu: 1lít.
  • Thuốc lá: 225 gram ( tương đương 200 điếu).
  • Đồ điện tử để bàn hay thiết bị cá nhân chạy bằng pin: mỗi loại 1 cái.
  • Đồ ăn sẵn: Giá trị không quá 75RM. Các đồ ăn khác bao gồm cả quà cáp không quá 400RM.
  • Nếu tiền mang theo trên 7000 USD bạn cần khai báo Hải Quan.
  • Bạn không nên mang theo kim cương, đá quý. Đối với các đồ vật quý có giá trị trên 300 USD cỡ lớn như: Camera, máy chụp ảnh … phải khai báo Hải quan để khi quay về không bị đánh thuế.

B. GIAO THÔNG

Giá vé xe buýt ở Ma-lai-xi-a tương đương với giá xe buýt ở Việt Nam, có tuyến đi 80km hết 3RM (13.000 VND), trong khi giá Taxi thì rẻ hơn nhiều so với ở Việt Nam.

Đi taxi 1km hết trung bình chưa đến 1RM, tức là khoảng 4.000 Việt Nam đồng. Một phần là do giá xe rẻ, một phần là do giá nhiên liệu rẻ. Các phương tiện công cộng ở đây được chạy bằng ga thay vì xăng dầu, mỗi lần nạp ga hết khoảng 6-7RM (30.000 VND) đi được 150km, tức là 200VND/1km, rẻ hơn cả chạy xe máy ở Việt Nam.

Phương tiện đi lại hầu hết là xe hơi, xe máy thì ít được sử dụng hơn.

C. GIAO TIẾP

1. Ngôn ngữ

Ngôn ngữ quốc gia của là tiếng “Bahasa ”. Tiếng “Bahasa ” tương tự như tiếng “Bahasa In-đô-nê-xi-a”. Ngoài ra, các nhóm sắc tộc khác nhau còn sử dụng các ngôn ngữ khác như tiếng Trung Quốc phổ thông, tiếng Trung Quốc Quảng Đông, tiếng Hindu…

Tuy nhiên, tiếng Anh cũng là ngôn ngữ khá thông dụng. Bạn có thể sử dụng tiếng Anh để giao dịch với nhân viên sân bay, khách sạn, người bán hàng trong siêu thị, các cửa hàng bán đồ lưu niệm, hàng ăn…

2. Tôn giáo

Những tôn giáo chính ở Ma-lai-xi-a gồm: Đạo Hồi – Muslim 60.4%, Đạo Phật – Buddhist 19.2%, Thiên chúa giáo – Christian 9.1%, Đạo Hindu 6.3%, Đạo Khổng – Confucianism, Đạo Lão – Taoism, các tôn giáo khác của Trung quốc 2.6%.

Phong tục của nhà thờ: Khi đến nhà thờ, hãy nhớ rằng bạn đang đến một nơi tôn nghiêm và nếu bạn bỏ qua các phong tục của họ, bạn sẽ bị coi là xấc xược với đạo Hồi. Hãy mặc quần áo che kín toàn thân, kể cả phần đầu. Quần áo hở hang là không thể chấp nhận đối với đạo Hồi.

Đa số người dân Ma-lai-xi-a theo đạo Hồi. Khi vào thăm nhà thờ Hồi giáo, bạn phải để giày, dép ở ngoài. Một số nhà thờ Hồi giáo cung cấp khăn, áo choàng cho khách khi vào. Khi gặp nhau, người Ma-lai-xi-a thường có thói quen sờ vào lòng bàn tay của người kia, sau đó chắp hai bàn tay lại.

Ở Ma-lai-xi-a, màu vàng là màu chuyên dùng của vương công quý tộc, khách không nên mặc quần áo màu vàng trong các hoạt động chính thức hoặc tham quan hoàng cung.

3. Phép xã giao

Ma-lai-xi-a là quốc gia đa văn hoá, với nhiều nhóm sắc tộc cùng chung sống hoà bình. Ba nhóm sắc tộc chủ yếu là người bản địa, người Trung quốc và người Ấn Độ. Mỗi nhóm có những phong tục và tập quán riêng. Khi đến Ma-lai-xi-a, bạn nên tôn trọng các phong tục tập quán của từng nhóm sắc tộc đó.

Chào hỏi: Cách thông thường để chào người Ma-lai-xi-a là mỉm cười và gật đầu. Chào người Trung Quốc, người ta bắt tay theo cách thông thường, bắt tay cũng là cách thông thường để chào bất cứ ai.

Cởi giầy: Nếu bạn được mời đến nhà riêng của người Ma-lai-xi-a, hãy nhớ cởi giầy trước khi bạn bước vào nhà. Ở Ma-lai-xi-a, người ta không cho phép đi giầy vào nhà vì như vậy sẽ bị coi là thiếu tôn trọng chủ nhà.

Sử dụng đúng tay: Ở Ma-lai-xi-a bạn phải luôn ăn bằng tay phải. Kể cả khi bạn sử dụng dao và dĩa, hãy sử dụng tay phải để ăn. Khi nhận hoặc đưa ai cái gì cũng phải dùng tay phải.

Quà tặng: Ngoài việc phải dùng tay phải để trao quà, các món quà cũng phải được gói đúng kiểu: giấy gói quà có màu sắc tươi vui như hồng, đỏ… không gói quà bằng giấy màu đen, trắng hay xanh da trời.

Gặp theo nhóm: Nếu bạn đi theo nhóm, người lớn tuổi nhất trong nhóm phải tiến lên phía trước để chào trước, sau đó đến người tiếp theo. Đừng ngần ngại nói chuyện với 1 người lạ vì người Ma-lai-xi-a rất thích nói chuyện và gặp gỡ người nước ngoài.

4. Tham quan

Thủy cung và vườn thú quốc gia: cách trung tâm thủ đô Kuala Lumpur 13km. Vườn thú quốc gia là một khu rừng nguyên sinh, có hơn 200 loài chim. Đến đây bạn có thể tìm đến hoạt động giải trí ưa thích nhất là cưỡi voi và lạc đà.

Cao nguyên Genting: cách Kuala Lumpur 55km về phía Bắc, khu nghỉ mát trên cao nguyên Genting được xây dựng năm 1965 ở độ cao 1.700m so với mặt nước biển. Nổi tiếng nhất ở đây là sòng bạc trong quán rượu trên đỉnh núi. Đây là sòng bạc hợp pháp duy nhất ở Ma-lai-xi-a.

Không hút thuốc và xả rác nơi công cộng, có thể bị phạt do vi phạm.

Cần mặc áo có cổ, quần dài, đi giầy và đeo ca vát (đối với nam giới) khi vào sòng bạc tại Genting.

5. Mua sắm

Từ tháng 7 đến cuối tháng 9 là mùa giảm giá lớn nhất trong năm. Các cửa hàng đều giảm giá từ 10% đến 70%. Cửa hàng mở cửa từ khoảng 10 giờ sáng và đóng cửa 9 giờ tối, tuy nhiên bạn cũng có thể nấn ná đến 10 giờ. Nếu bạn say mê hàng hiệu thì cũng có thể kiếm được nhiều món rẻ bất ngờ so với ở Việt Nam.

Nếu muốn mua quà lưu niệm thì có thể ghé Kompleks Kraf ở Jalan Conlay. Có thể mua sắm với giá cả hợp lý ở Lot 10, Sungei Wang đường (jalan) Bukit Bintang.

D. AN NINH

Tội phạm buôn bán vận chuyển ma tuý ở Ma-lai-xi-a là tội phạm nghiêm trọng, sẽ bị mức án cao nhất là tử hình.

Nạn giật túi tương đối phổ biến, nhất là ở những khu vực mua bán sầm uất, đông khách du lịch. Vì vậy bạn nên cất giữ hộ chiếu trong người, tránh để trong túi đeo vai.

Nếu gặp sự cố bạn có thể đến đồn cảnh sát trình báo hoặc gọi số điện thoại 999.

E. THỜI TIẾT

Ma-lai-xi-a thuộc vùng khí hậu nhiệt đới; quanh năm nắng nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình giao động từ 24 độ C đến 34 độ C. Độ ẩm 70 – 90 %.

Ma-lai-xi-a có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 6 – 7, mùa mưa từ tháng 10 – 12. Khí hậu chịu ảnh hưởng bởi hai loại gió mùa: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 mm đến 4.000 mm.

Ở Ma-lai-xi-a, khả năng nhiễm các bệnh như sốt huyết, viêm gan B, viêm gan A tương đối cao, vì vậy bạn nên tiêm phòng trước khi đi.

F. XUẤT CẢNH

Hàng hóa cấm xuất cảnh Malaixia:

  • Các loại tiền giả.
  • Băng, đĩa, sách, tranh ảnh, tượng điêu khắc …khiêu dâm.
  • Các loại rượu có độc tố, nồng độ chì lớn hơn 3.46 miligram/lít.
  • Khi xuất cảnh phải có tờ khai Hải quan màu vàng để nhập cảnh vào Việt Nam.

H. CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN VIỆT NAM TẠI MALAIXIA

Đại sứ quán Việt Nam Tại Ma-lai-xi-a

Ðịa chỉ: No.4 Persiaran Stonor, 50450 Kualar Lumpur

Ðiện thoại : 248 4534 / 248 4036

Fax: 248 3270

Code: 00-603

PHẦN III. THỊ THỰC

Các thông tin dưới đây được tham khảo trên trang điện tử của Đại sứ quán Ma-lai-xi-a.

1. Hướng dẫn chung

  • Ma-lai-xi-a miễn thị thực suốt nhiệm kỳ công tác đối với thành viên Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự mang hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và thành viên gia đình họ mang hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ. Họ và tên của những người này phải được thông báo cho nước tiếp nhận 14 ngày trước khi nhập cảnh.
  • Công dân Việt Nam muốn nhập cảnh Ma-lai-xi-a cần có hộ chiếu hoặc giấy thông hành (được quốc tế công nhận) còn giá trị sử dụng ít nhất là 6 tháng. Theo Hiệp định đã ký, công dân Việt Nam có thể lưu trú trên lãnh thổ Ma-lai-xi-a trong thời hạn không quá 30 ngày cho mục đích du lịch, tham dự các hoạt động thông tấn, báo chí; đi việc công, thăm thân, tham gia hội nghị, hội thảo… mà không cần thị thực.  Nếu bạn lưu trú trên 30 ngày, bạn cần xin thị thực  tại Đại sứ quán, Tổng Lãnh sự của Ma-lai-xi-a ở Việt Nam. Tuy nhiên, được cấp thị thực chưa phải là sự đảm bảo chắc chắn rằng bạn sẽ được nhập cảnh. Cán bộ Cục nhập cảnh tại cửa khẩu/sân bay sẽ là người quyết định cuối cùng về việc cho phép bạn nhập cảnh hay không. 
  • Nếu bạn sang Ma-lai-xi-a du lịch cần chứng minh khả năng tài chính cho thời gian luu trú tại Ma-lai-xi-a (thẻ tín dụng hoặc tiền mặt tương đương 500 đôla Mỹ), và vé máy bay về Việt Nam hoặc sang 1 nước khác.
  • Khi đến cửa khẩu bạn phải điền vào tờ khai đến hoặc đi và trình Tờ khai này cùng hộ chiếu, thị thực và vé máy bay cho cán bộ nhập cảnh. Trước khi rời quầy, bạn phải kiểm tra xem cán bộ nhập cảnh đã đóng dấu nhập cảnh vào hộ chiếu của bạn hay chưa. Nếu không có con dấu nhập cảnh này, bạn sẽ gặp rắc rối khi xuất cảnh.

a. Mẫu đơn xin thị thực

Bạn có thể tải về và khai đơn xin thị thực theo mẫu sau

b. Nộp hồ sơ

Bạn có thể nộp hồ sơ xin thị thực tại Đại sứ quán Ma-lai-xi-a tại Hà Nội hoặc Tổng lãnh sự quán Ma-lai-xi-a tại Tp Hồ Chí Minh.

 Để biết thêm thông tin chi tiết, xin liên hệ

Đại sứ quán Ma-lai-xi-a tại Hà Nội

Địa chỉ: 43 – 45 Điện biên phủ – Ba Đình – Hà Nội.

Điện thoại: 84-4-3734 3849 / 84-4-3734 3836

Fax: 84-4-3734 3832

Website: http://www.kln.gov.my/web/vnm_hanoi/home

Email:  malhanoi@kln.gov.my

 Tổng lãnh sự quán Ma-lai-xi-a tại TP Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Phòng 1208, Tầng 12, Tòa Nhà Mê Linh Point, 2 Ngô Đức Kế, P. Bến Nghé, Q. 1 – TP Hồ Chí Minh 

Điện thoại:  8299023/ 8299027

Email:  mwhcminh@bdvn.vnd.net/congen@hcm.vnn.vn

 

 

Thông tin cần biết khi đi Lào

PHẦN I.

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ

NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

- Vị trí địa lý: Nước Lào nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Châu Á, không có biển, bao quanh là lục địa. Có đường biên giới tiếp giáp với Việt Nam ở phía Đông, Campuchia ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Myanma và Trung Quốc ở phía Bắc. 

- Diện tích:  236.800km2,

- Dân số: Khoảng  6.6 triệu người (2010),

- Mật độ dân số: 27 người/km2  

- Ngày Quốc khánh: 02/12/1975,

- Thủ đô: Viêng Chăn (VIENTIANE),

- Quốc kì : Quốc kì của Lào hiện nay có hình chữ nhật, được chia thành 03 dải ngang, gồm một dải màu xanh ở giữa và hai dải màu đỏ ở phía trên và phía dưới. Ở giữa dải xanh có một hình tròn màu trắng.

- Ngôn ngữ chính:  Tiếng Lào

- Ngôn ngữ khác: tiếng Việt, Anh, Pháp.

- Tôn giáo chính:  Phật giáo

- GDP: 7,7%/năm (2010), dự kiến năm 2011 đạt 8,5%

- Thu nhập bình quân đầu người: 960 USD/năm (năm 2010)

- Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt  Nam:  05-9-1962

- Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Việt Nam 18/7/1977

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước:  Đ/c Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn

- Chủ tịch Quốc hội:   Đ/c Pa- ny Ya- tho- tu

- Thủ tướng Chính phủ:   Đ/c Thong- sing Thăm- ma- vông

- Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao:  Đ/c Thoong-lun Si-su-lít

- Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới, có 02 mùa rõ rệt, gồm mùa mưa và mùa khô;  mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. 

- Giao thông: Có giao thông đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không.

- Văn hoá: Chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc, tiêu biểu nhất là văn hoá Phật giáo. Do vậy, trên khắp đất nước Lào, đền chùa được xây dựng rất nhiều, với quy mô lớn và rất đẹp; có những ngôi chùa trở thành di sản văn hoá thế giới.

- Hành chính của Lào: Lào áp dụng một hệ thống hành chính bốn cấp gồm cấp trung ương và ba cấp địa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh; có 17 tỉnh, thành phố và thủ đô Viêng Chăn. Cấp địa phương dưới tỉnh là quậnhuyệnthị xã; cấp địa phương thấp nhất là bản (bản tương đương cấp xã của Việt Nam).

- Tài Nguyên thiên nhiên:  Lào rất giàu có và phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên như:

+ Tài nguyên đất: có 3 loại đất chủ yếu như đất phù sa, đất đỏ và đất vùng núi đồi, rất thuận lợi cho việc phát triển ngành nông – lâm – nghiệp.

+ Tài nguyên rừng: Rừng của Lào chiếm 67% diện tích toàn nước Lào, có nhiều loại gỗ quý hiếm với trữ lượng lớn và có giá trị kinh tế cao. 

+ Tài nguyên khoáng sản: Các mỏ kim loại quý như: mỏ vàng, bạc, sắt, đồng, quặng bô xít, than đá,… đặc biệt, Lào có tiềm năng rất lớn về thuỷ điện.

- Nước Lào có những phong tục và văn hoá rất độc đáo như:

1. Phong tục chào:

Người Lào thường chào nhau bằng một cử chỉ giống như cầu nguyện được gọi là cúi chào (nop). Người trẻ tuổi hơn hoặc ở vị trí thấp hơn luôn cúi chào người lớn tuổi hơn hoặc ở địa vị cao hơn. Tục bắt tay khi gặp nhau của người phương Tây rất phổ biến trong những năm gần đây. Tuy nhiên, một nụ cười kèm theo một cái đầu hơi cúi được cho là lịch sự. Tỏ ra quá sốt sắng, thể hiện tình cảm trước công chúng, các cử chỉ khoa tay múa chân đều được xem là không lịch sự.

Đầu là bộ phận cao nhất của cơ thể, chân là bộ phận thấp nhất về nghĩa đen và nghĩa bóng. Chạm vào đầu một người nào đó hoặc chỉ vào một người hay một vật bằng chân được xem là cực kỳ thô lỗ. Cũng giống như ở các đền thờ, chúng ta cần bỏ giày dép ra trước khi vào nhà.

2. Ẩm thực:

Có đến 90% dân Lào ăn xôi và ta có thể thấy xôi trong bất kỳ bữa ăn nào của người Lào, thức ăn của người Lào thường được bày vào một đĩa lớn, thức ăn kèm với xôi là Lạp, Koy, Ping. Người Lào sống gần gũi với thiên nhiên, cây cỏ nên thích ăn những thức ăn tươi sống lấy từ núi rừng như thịt gà, thú rừng vừa mới săn bắn, cây lá…

Thức ăn phổ biến thứ hai là Lạp. Lạp được làm từ thịt gà, thịt vịt, thịt bò… Có lúc Lạp làm bằng thịt hổ, “Hổ Lạp” thường được ăn sống, nhưng phần lớn các bạn được phục vụ các món ăn nấu chín từ nhà hàng. Thỉnh thoảng bạn được phục vụ những thức ăn nguội với các loại rau sống và nước dừa, các món ăn này được phục vụ trong những bữa tiệc chiêu đãi, đám cưới hay những buổi tiệc quan trọng khác. Người nước ngoài rất thích món ăn này. Một món ăn địa phương được nhiều người ưa thích đó là món Or lam của vùng Luang Prabang. Nhìn chung, thức ăn Lào đơn điệu cả về hình thức lẫn nội dung. Phần lớn khách du lịch đến Lào không quen ăn những thức ăn Lào.

3. Nhà cửa:

Nhà người Lào được xây bằng cột nhà sàn. Có hai loại nhà: nhà kiểu mái đơn và mái đôi. Số lượng bậc thang phụ thuộc vào chiều cao của nhà nhưng thông thường người Lào thường làm số bước lẻ như 3,5,7,9 bước.

4. Lễ buộc chỉ tay:

Mục đích: có nhiều dịp để người ta tổ chức Lễ buộc chỉ tay, mục đích của buổi Lễ buộc chỉ tay là để thắt chặc tình cảm của những người bạn, người thân lâu ngày không gặp nhau và cầu chúc nhau những điều tốt đẹp nhất. Mục đích cụ thể của từng buổi lễ tuỳ thuộc vào mức độ quan hệ của những người tham dự.

4.1. Đối với khách quí từ phương xa đến: Nhằm thể hiện sự tôn trọng, sự thân thiện mến khách của chủ nhà, mong muốn giữ lại những kỉ niệm và cầu chúc nhau cùng tiến bộ, phát triển với những lời chúc tốt nhất.

4.2. Những người trong gia đình (đi công tác xa về, sắp đi công tác hoặc bệnh mới bình phục). Chúc đem lại sự bình an, công tác thành đạt, mau chóng bình phục trở lại công việc, chúc những điều tốt lành cho người thân của mình. Việc sinh nở con trai con gái người ta cũng là lễ buộc chỉ tay ăn mừng.

4.3. Nhân các ngày lễ lớn, mừng họp mặt gia đình hoặc để hoà chung không khí vui của ngày lễ, ngày hội. Những ngày này, người ta cũng chúc nhau những điều tốt đẹp nhất.

- Hình thức tổ chức: Tuỳ mức độ quan hệ, đời sống kinh tế mà hình thức tổ chức buổi lễ buộc chỉ tay cũng khác nhau (tốn kém, trung bình …).

- Cách thức tổ chức:

Chủ nhà chuẩn bị sẵn một cây trang trí, trên có gắn hoa trang trí cho đẹp và các sợi chỉ để sau lấy xuống buộc chỉ tay. Cây trang trí đặt trên một thảm nhỏ, chung quanh đặt nhiều đĩa hoa quả, trái cây, gà và rượu (rượu gạo, rượu nếp).

Bắt đầu lễ, mọi người ngồi quây quần xung quanh cây trang trí, Già làng đọc bài kinh cầu chúc điều tốt lành (các bài đọc này khác nhau tuỳ theo tính chất từng buổi lễ). Đọc khoảng 15 phút, mọi người im lặng lắng nghe, hai tay chắp phía trước, ngồi xếp hai chân một bên hoặc ngồi xếp bằng.

Đọc xong, Già làng lấy chỉ buộc cho khách quý, vừa buộc vừa cầu chúc (nói tiếng Lào), để đáp lễ khách phải làm tương tự (lấy dây chỉ xuống và buộc cổ tay cho Già làng và cầu chúc (tiếng mẹ đẻ).Mọi người xung quanh sẽ làm tương tự, thời gian dự kiến: Từ 30 – 45 phút.

5. Tết cổ truyền Bunpimay của nhân dân Lào :

Người Lào cũng đón năm mới dương lịch như các nước khác trên thế giới, nhưng Tết Lào – Tết Cổ truyền Bunpimay (còn gọi là Pi Mày, Koud Song Kane hay Bunhot Nậm có nghĩa là Hội té nước) là lễ hội truyền thống lớn nhất ở đất nước triệu voi này.

Theo truyền thống, Tết Lào diễn ra trong suốt tháng thứ năm Phật lịch, bắt đầu từ ngày thứ sáu của tháng thứ năm và kết thúc vào ngày thứ năm của tháng thứ sáu, trong đó ngày lễ chính Wun Salong được tổ chức vào dịp trăng tròn. Hiện nay Tết Lào được tổ chức từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 dương lịch hàng năm, khi bầu trời thanh cao, các dòng sông lớn đều dồi dào nước tượng trưng cho một năm mới nhiều lộc.

Tết Bunpimay diễn ra trong ba ngày. Ngày đầu tiên cũng là ngày cuối cùng của năm cũ, người ta lau dọn sạch sẽ trong nhà ngoài ngõ. Ngày thứ hai không được tính đến vì đó là giao thời giữa năm cũ và năm mới. Hội bắt đầu vào ngày cuối cùng với nhiều hoạt động tưng bừng khắp nơi. Ngày cuối cũng là ngày kết thúc tuần trăng. Trong ba ngày này người Lào được nghỉ, không làm việc và cũng không có các hoạt động buôn bán.

Nguồn gốc ngày Tết Bunpimay:

Đầu tiên Tết Lào được tổ chức vào ngày đầu tiên của tháng Một. Tuy nhiên, thời điểm đó vào mùa đông, không thích hợp cho phong tục té nước nên ngày này đã được chuyển sang thời điểm nóng nhất trong năm. Đây cũng là thời gian ngày thường dài hơn đêm, ngày dài nhất có thể đến 14 tiếng 24 phút.

Theo các sử gia Lào, tổ tiên người Lào đến từ phía Nam Trung Quốc và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ nên lấy ngày, tháng, năm theo Ấn Độ.

 Riêng Tết Lào là lấy theo người Mon-Phama và người Khmer.

Người Ấn Độ coi trọng thời điểm ngày dài hơn đêm và gọi đó là Watthanasagn, có nghĩa là “nhiều bóng râm”. Khi đó mặt trời mọc ở phía Bắc và bắt đầu mùa mưa, thuận lợi cho trồng trọt hơn các mùa khác trong năm.

Ngoài ra, Tết Lào còn xuất phát từ một truyền thuyết về cuộc đấu trí giữa Thammabane và Kabinlaphom. Thời xa xưa, từ trước khi Phật giáo ra đời, có một chàng trai con nhà phú nông tên là Thammaphala hay còn gọi là Thammabane rất nhanh trí và hiểu được tiếng chim. Thammabane thường di khắp nơi để truyền dạy kiến thức.

Thời gian đó người dân vẫn coi Kabinlaphom, thần của bầu trời là người thông thái nhất. Khi biết tin dưới trần gian có Thammabane là một người rất hiểu biết, Kabinlaphom muốn thi tài với Thammabane. Ông ta đặt ra ba câu hỏi để Thammabane trả lời, nếu Thammabane trả lời được thì Kabinlaphom sẽ phải dâng đầu mình và ngược lại.

Ba câu hỏi đó là:

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi sáng?

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi chiều?

-Thần sắc con người tập trung ở đâu vào buổi tối?

Thammabane không thể trả lời ngay, nhưng anh xin Kabinlaphom thêm 9 ngày nữa. Thammabane ra sức suy nghĩ nhưng vẫn không tìm được đáp án. Ba ngày trôi qua, đã quá mỏi mệt, anh ngủ gật dưới gốc cọ thì nghe hai vợ chồng đại bàng nói chuyện trên đầu mình. Đại bàng vợ hỏi: “Ngày mai chúng ta sẽ ăn gì đây?”. Đại bàng chồng trả lời: “Đừng lo, chúng ta sẽ ăn thịt Thammabane, vì anh ta sẽ không thể trả lời được 3 câu hỏi của Kabinlaphom và sẽ bị giết”. Khi đại bàng vợ hỏi về câu trả lời, đại bàng chồng đã nói:

-Thần sắc con người vào buổi sáng tập trung ở khuôn mặt, vì vậy buổi sáng con người phải rửa mặt.

-Thần sắc con người vào buổi chiều tập trung ở ngực, vì vậy con người thường tắm vào buổi chiều.

-Thần sắc con người vào buổi tối tập trung ở tay và chân, vì vậy con người thường rửa chân tay trước khi đi ngủ.

Nhờ biết được tiếng chim, Thammabane nghe rõ ba câu trả lời và sau đó trở lại gặp Kabinlaphom. Theo cam kết, Kabinlaphom phải chặt đầu mình. Tuy nhiên, trước khi chặt đầu, Kabinlaphom dặn bảy cô con gái của mình giữ gìn cái đầu cẩn thận, vì nếu đầu ông ta rơi xuống đất sẽ xảy ra hỏa hoạn, ném lên trời sẽ gây ra hạn hán, còn ném xuống biển thì biển sẽ khô cạn. Bảy con gái của Kabinlaphom đặt đầu cha trên một cái đĩa vàng và thờ ở động Khanthoumali, núi Phoukhaokailat. Hàng năm, các cô lần lượt đến đây rửa sạch đầu cha và đặt trở lại vào động.

- Tên của bảy cô con gái Kabinlaphom là Thoungsatheve, Khorakham, Rarksa, Mountha, Kirinee, Kinitha và Manothone. Tất cả bảy cô được gọi chung là Nang Sangkhane.

6. Các phong tục trong Tết Bunpimay:

6.1. Té nước:

Vào ngày đầu tiên của Tết Lào, người ta quét dọn, lau chùi nhà cửa sạch sẽ, chuẩn bị nước thơm và hoa. Nước thơm là một hỗn hợp gồm nước, nghệ, bồ kết nướng, hoa và dầu thơm. Nước được ướp hương hoa hoặc hương liệu thiên nhiên. Về sau người ta còn cho cả kem và bột.

Vào buổi chiều, người dân trong làng tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo. Sau đó, người ta rước tượng Phật ra một gian riêng trong ba ngày và mở cửa để mọi người có thể vào tắm Phật. Nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại đem về nhà để té nuớc thơm ấy vào người làm phước. Người ta còn té nước vào các nhà sư, chùa và cây cối xung quanh chùa.

Để tỏ lòng tôn kính người trẻ tuổi té nước những người lớn tuổi để chúc sống lâu và thịnh vượng. Bạn bè té nước vào nhau. Họ không chỉ té nước vào người mà còn vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật và công cụ sản xuất.

Người Lào tin rằng nước sẽ giúp gột rửa điều xấu xa, bệnh tật và cầu chúc năm mới sống lâu, sạch sẽ và mạnh khỏe. Ai bị ướt nhiều là hạnh phúc nhiều.

Tục lệ té nước (tạt nước) trong ngày tết của Lào cũng có phần do thời tiết nóng bức (tháng 4 là thời điểm nóng nhất ở Lào). Trước khi té nước cho nhau, người ta thường dành cho nhau những lời chúc tốt lành. 

6.2.Xây tháp cát:

Cát được đưa đến sân chùa và trang trí trước khi dâng cho các nhà sư để tỏ lòng thành kính. Có hai cách để làm tháp bằng cát. Người ta có thể làm ngay tại bãi biển hoặc dâng cát cho chùa. Tháp cát được trang trí bằng cờ, hoa, dây vải trắng và vẩy nước thơm. Các tháp cát này tượng trưng cho núi Phoukaokailat nơi bảy con gái của Kabinlaphom thờ đầu cha mình và được dâng cúng để cầu sức khỏe, hạnh phúc trong năm mới.

6.3. Phóng sinh:

Các loài động vật như rùa, cá, cua, chim, lươn và các con vật nhỏ khác được phóng sinh. Người ta tin rằng trong dịp Tết ngay cả động vật cũng cần được tự do. Một số người phóng sinh động vật với số lượng trùng với tuổi của con vật.

6.4. Hái hoa tươi:

Vào các buổi chiều, sư trụ trì hướng dẫn các nhà sư, ni cô và dân làng đi hái hoa tươi đem về chùa cúng Phật. Trong khi đi hái hoa người ta chơi trống và các nhạc cụ cổ truyền. Những người khác thì đem nước đến lau rửa hoa.

6.5. Ăn món Lạp:

Trong ngày Tết, người Lào rất chú trọng tới việc ăn món Lạp, đặc biệt là các doanh nhân. Theo ngôn ngữ của nước này, lạp có nghĩa lộc. Lạp ở đây thường được làm bằng thịt gà hay thịt bò tươi sau đó đem trộn với gia vị. Đặc biệt, món này mà không có thính thì sẽ làm giảm hương vị độc đáo của chúng. Trong mỗi gia đình, đặc biệt là những người làm nghề kinh doanh, món lạp thường được các đầu bếp làm rất công phu, vì nếu món này trong ngày Tết mà không ngon thì họ thường ví năm mới làm ăn có nhiều điềm xui. Lạp thường được ăn với xôi nóng.

Theo nhiều chuyên gia văn hóa Lào, thì lạp được xem như là linh hồn của người Lào trong năm mới. Người ta có thể đem chúc nhau bằng món lạp. Gia đình nào nhận được nhiều món này thì hy vọng năm mới sẽ có nhiều lộc.

7. Các phong tục khác:

Vào những ngày này mọi người thường biếu vải, biếu khăn cho người già. Hội đua thuyền được tổ chức trên sông.

Ở các địa phương đều có đám rước, nhưng nổi tiếng nhất là đám rước Nangsangkhane ở cố đô Luang Prabang, với bảy cô gái đóng vai bảy người con của Kabinlaphom.

Ban ngày người ta đến đền chùa cầu nguyện. Vào buổi tối, mọi người tập trung ở chùa để vui chơi, biểu diễn âm nhạc truyền thống (morlam) và múa ramwong.

Nếu làng nào đặt tượng Phật trong hang núi thì lễ tắm Phật gọi là Song Namphaphou. Các nhà sư và dân làng ăn trưa ngay tại núi sau khi làm lễ.

PHẦN II.

THÔNG TIN VỀ THỊ THỰC

Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định miễn thị thực cho HCNG, HCCV ngày 17/7/1977; Công hàm trao đổi năm 1993; Hiệp định miễn thị thực cho HCPT ký ngày 05/03/2004, có hiệu lực từ ngày 01/07/2004; Thoả thuận về việc tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương tiện, hàng hoá qua lại biên giới nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc khuyến khích phát triển hợp tác đầu tư, thương mại giữa hai nước ký ngày 14/9/2007 ( Thoả thuận Hà Nội năm 2007). Cụ thể:

- Miễn thị thực cho người mang HCNG, HCCV, không quy định rõ thời gian tạm trú.

- Miễn thị thực cho người mang HCPT đi việc công (có tem AB của Việt Nam hoặc ký hiệu SERVICE của Lào), cụ thể:

- Miễn thị thực cho người mang HCPT đi việc công (thuộc mọi thành phần kinh tế và các tổ chức có tư cách pháp nhân) thực hiện các hợp đồng thương mại, lao động, đầu tư và các dự án hợp tác. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhập cảnh, chủ dự án hoặc người sử dụng lao động phải làm đầy đủ các thủ tục đăng ký cư trú cho người lao động theo qui định hiện hành của mỗi nước.

- Công dân hai nước có Thẻ lao động và Thẻ tạm trú được miễn thị thực khi xuất cảnh, nhập cảnh trong thời hạn của Thẻ tạm trú. Giấy phép lao động và Thẻ tạm trú được cấp theo thời hạn của các hợp đồng thương mại, lao động, đầu tư, các dự án hợp tác và được gia hạn với thời hạn tối đa 12 tháng một lần.

- Miễn thị thực cho người mang HCPT đi việc công là học sinh, sinh viên, thực tập sinh theo chương trình hợp tác giữa hai Chính phủ hoặc giữa các tổ chức quốc doanh hai nước. Thời hạn cư trú được cấp phù hợp với thời hạn của chương trình hợp tác.

- Miễn thị thực cho người mang HCPT còn giá trị sử dụng ít nhất 6 tháng với thời gian tạm trú không quá 30 ngày. Người có nhu cầu nhập cảnh trên 30 ngày phải xin thị thực trước; thời gian tạm trú có thể được gia hạn tối đa 2 lần, mỗi lần 30 ngày. Lệ phí cấp hoặc gia hạn thị thực thống nhất hai Bên là 20USD/thị thực, thu bằng tiền VND và (Kíp) LAK hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi (theo tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Lào công bố tại thời điểm thu).

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI ĐẾN NƯỚC BẠN LÀO

1. Khi đến thăm đất nước Lào, khi chào hỏi cần tránh việc bắt tay phụ nữ Lào mà thường chào nhau bằng một cử chỉ giống như cầu nguyện được gọi là cúi chào (nop) và kèm theo một nụ cười với cử chỉ hơi cúi đầu được cho là lịch sự.

2. Khi người Lào tổ chức Lễ buột chỉ tay cho bạn thì bạn hãy vui vẻ và rất hạnh phúc về điều này; vì mục đích của buổi Lễ buộc chỉ tay là nhằm thể hiện sự tôn trọng, sự thân thiện mến khách của chủ nhà, mong muốn giữ lại những kỉ niệm và cầu chúc nhau cùng tiến bộ, phát triển với những lời chúc tốt nhất. Bạn cũng nên cầm chỉ buộc cho những người bạn yêu quí. Người Lào quan niệm, càng nhiều chỉ buột trong buổi lễ thì càng có nhiều người quý mến và đem lại nhiều may mắn.

3. Khi bạn đến nước Lào, bạn được các bạn Lào chiêu đãi món Lạp – một món ăn rất đặc biệt của người Lào; bạn hãy tỏ ra vui mừng vì được thưởng thức món ăn này và hãy luôn khen ngon và cảm ơn vì món ăn rất đặc biệt. Bởi theo ngôn ngữ của Lào, lạp có nghĩa là lộc. Theo nhiều chuyên gia văn hóa Lào, thì lạp được xem như là linh hồn của người Lào trong năm mới. Người ta có thể đem chúc nhau bằng món lạp. Gia đình nào nhận được nhiều món này thì hy vọng năm mới sẽ có nhiều lộc.

4. Người Lào rất hiền lành và mến khách, không có chuyện tranh cãi nhau hay có lời qua tiếng lại; khi tham gia giao thông ở Lào, bạn cần hạn chế tối đa việc bóp còi xe inh ỏi và phóng nhanh, vượt ẩu hay giành đường; vì ý thức tham gia giao thông người Lào rất tốt; họ luôn nhường đường cho nhau khi tham gia giao thông. Điểm đặc biệt ở hệ thống giao thông Lào là chỉ cho phép đèn xanh ở 1 hướng, hướng đối diện vẫn là đèn đỏ. Vì vậy, đừng thấy phía đối diện chạy thì cũng chạy theo là bị phạt đấy! Đèn bộ hành cũng như  đèn xe: chỉ cho 1 hướng đi mà thôi!

          5. Trong các tiệc chiêu đãi của người Lào, họ ăn uống rất nhiệt tình và mong muốn những vị khách quý cũng như họ; vì càng nhiệt tình thì họ cho rằng mình rất yêu mến và quý họ; nhưng người Lào không bao giờ có chuyện ép nhau trong việc uống rượu, bia; mà tuỳ lòng của khách.

          7. Khi đến nước Lào bạn cần chú ý các trạm thu phí đường bộ của Lào, tuy rất đơn giản, bạn có thể chạy băng qua một cách dễ dàng vì không có barie chắn. Bạn cần dừng lại và chờ nhân viên ra thu phí và giao vé rồi bạn hãy tiếp tục hành trình của mình.

          8. Điều cần lưu ý hiện nay khi bạn đến thăm nước Lào, bạn không được dùng từ "bộ tộc" hoặc dùng "Lào lùm, Lào thởng hay Lào xủng" như trước nữa. Vì nói như vậy là xem như không tôn trọng họ và có ý phân biệt chủng tộc, chỉ dùng “Nhân dân Lào” là đủ.

NHỮNG CHỈ DẪN CẦN THIẾT

1. Tiền: Lào sử dụng Kíp (LAK), 1.000 Kíp Lào = 2.700 VNĐ (vào tháng 05/2011), có thể đổi tiền Kíp tại cửa khẩu hoặc tại các chợ.

2. Sim điện thoại: Có thể mua tại cửa khẩu, nên mua loại sim Uitel (40.000kip/cái), giá cước rẻ, sóng mạnh và phủ rộng khắp (Unitel là do Tập đoàn Viettel của Bộ Quốc phòng Việt Nam đầu tư tại Lào)

3. Giá một số mặt hàng ở Lào:

- Phở:          10.000 kíp – 15.000 kíp/tô

- Bún:          10.000 kíp – 15.000 kíp/tô

- Xôi:            6000 kíp/típ

- Cà phê:      7000 kíp/ly

- Bia:           10.000 kíp/lon, 9000 kíp/chai

4. Hướng dẫn cách gọi điện thoại:

-      Gọi nội bộ trong nước Lào: gọi trực tiếp các số

-      Gọi từ Lào về Việt Nam: 0084 – Mã tỉnh (bỏ số 0 đầu tiên) – số máy cần gọi (nếu là di động bỏ số 0 đầu tiên)

-      Gọi từ Việt Nam qua Lào: 00856 – 020 – số máy di động cần gọi

 

Địa chỉ liên lạc của các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại Lào:

1. Đại sứ quán Việt Nam tại Viêng Chăn:

+Địa chỉ: Số 85, đường 23 Sinha, Bản Phonsay, Quận Saysetha

+Điện thoại : ………………………………………….+856-21-813409

+Fax : ……………………………………………………+856-21-413379

+Lãnh sự : ……….. ………………………………….413400

+E-mail: dsqvn@laotel.com

2. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Pắc-xế:

+Địa chỉ: 31, Bản Phà Bạt, thị xã Pắc-xế, tỉnh Chămpasak

+Điện thoại : ………………………………………….+856-031-212827

+Fax : ……………………………………………………+856-031-214140/856-031-212058

+E-mail: vnemb.lao@mofa.gov.vn

3. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Savanakhet

+Địa chỉ: 118 đường Si sa vong, huyện Cay son phom vi han, tỉnh Savanakhet

+Điện thoại : ………………………………………….+856-41-212418

+Fax : ……………………………………………………+856-41-212418

+E-mail: tlsxavan@laotel.com

3. Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Luông-pha-bang

+Địa chỉ: số 427-428, bản That Bosot, tỉnh Luông-pha-bang

+Điện thoại : ………………………………………….+856-071-254847

+Fax : ……………………………………………………+856-071-4746

+E-mail: tlsqlpb@yahoo.com

PHẦN III.

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỈNH CÓ QUAN HỆ KẾT NGHĨA

VỚI TỈNH QUẢNG NAM - TỈNH SÊ KÔNG

Sê Kông là tỉnh thuộc miền Nam của Lào, được tách ra từ tỉnh Salavan từ năm 1984, là tỉnh miền núi, với 95% dân số là người dân tộc sinh sống bằng nghề nương rẫy và săn bắt thú rừng là chính, giao thông chưa phát triển, kinh tế-xã hội phát triển chậm do còn dựa vào thiên nhiên là chính và còn mang nặng tính tự cung, tự cấp…

Diện tích: 7.665km2

Đường biên giới giáp với Việt Nam: 280km (Thừa Thiên Huế: 68km, Quảng Nam 142km và Kon Tum: 70km), diện tích đồi núi chiếm 65% , diện tích đồng bằng chiếm 5% diện tích của tỉnh.

- Đơn vị hành chính: Gồm 04 huyện: Đắk Chưng, Kà Lùm và Lạ Màm, Thà Teng;  trung tâm tỉnh lỵ là huyện Lạ Màm.

- Dân số (2010): 102.000 người.

- GDP (2010): 11,5%

- Thu nhập bình quân đầu người: 520 USD/người (2010),

- Các điểm tham quan du lịch: Thác Phêc, Thác Hủa khôn …

Tỉnh Sê Kông có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển kinh tế với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như: tài nguyên rừng, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản (mỏ sắt,  than đá, vàng, boxit…).

Hiện nay, Sê Kông là một trong các địa phương thu hút được nhiều dự án đầu tư của Lào. Nhờ có hệ thống sông ngòi rộng khắp và rất thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thuỷ, phát triển ngư nghiệp, xây dựng các nhà máy thuỷ điện (như: Xê Ka Mán 3 và Xê Ka Mán 4, Sê Kông 4 và Sê Kông 5, Đắc Y Mơn, Lụi Lăm phăn…).

Đặc biệt, Sê Kông có tuyến quốc lộ 16B nếu được đầu tư nâng cấp  (đoạn Sê Kông đến cửa khẩu Đắc Tà Oọc giáp với cửa khẩu Nam Giang tỉnh Quảng Nam dài khoảng 110km) sẽ trở thành tuyến đường ngắn nhất và thuận lợi nhất của Tuyến Hành Lang kinh tế Đông – Tây nối từ Myanma – Đông bắc Thái Lan – Các tỉnh miền Nam của Lào – Bắc Campuchia với các cảng biển Đà Nẵng – Kỳ Hà – Dung Quất thuộc các tỉnh miền Trung Việt Nam.

TỈNH CHĂM PA SẮC

Tỉnh Chăm sắc có 10 huyện và 01 thị xã:  thị xã Pắc sế, huyện Pắc soong, huyện Pa – chiêng Chá – lơn – xúc, huyện Sa – nạ Xổm – bùn, huyện Phôn – thong, huyện Pạ – thum Phon, huyện Chăm – pa – sắc, huyện Xu khụ – ma, huyện Mụn và huyện Khổng.

Tỉnh Chăm pa sắc là một tỉnh trọng điểm của miền Nam nước Lào, đây là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ của Lào, địa phương này nổi tiếng với những sản phẩm nông nghiệp như: cà phê, trà, song mây, rau, hoa quả và một số sản phẩm nông nghiệp khác. Hiện nay tỉnh đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn, tỉnh đã có quy hoạch phát triển ngành công nghiệp của tỉnh đến năm 2020. Hiện nay, tỉnh đang hình thành một số đặc khu kinh tế, cụ thể là đang kêu gọi đầu tư vào đặc khu kinh tế Khon phạ pheng nằm ở phía Nam của thị xã Pắc sế. Tỉnh Chăm pa sắc đang phấn đấu xây dựng tỉnh thành trung tâm mạnh về kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục của miền Nam Lào và là động lực để thúc đẩy phát triển các tỉnh miền Nam của Lào; quan trọng hơn, tỉnh Chăm pa sắc đã có kế hoạch để tranh thủ cơ hội khi trong tương lai tỉnh Chăm pa sắc sẽ là trung tâm trung chuyển của tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây thứ 2 từ Băng cốc, Thái Lan đi qua Chăm pa sắc và đến Cửa khẩu Nam Giang của Quảng Nam và về Cảng quốc tế Đà Nẵng, đây là cơ hội và lợi thế lớn để Chăm pa sắc đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. 

Ngành du lịch- dịch vụ tỉnh Chăm pa sắc phát triển nhanh và mạnh trong những năm gần đây, là một tỉnh có nhiều công trình kiến trúc nỗi tiếng; trong đó công trình văn hóa tiêu biểu nhất của Chăm pa sắc là ngôi đền thiêng Wat Phou – Di sản văn hóa thế giới, nằm cách thị xã Pắc sế về phía Nam gần 40km, theo dọc bờ sông Mê Công. Wat Phu được xây dựng từ thế kỷ thứ 9 đến 13 được xem là một trong những đền thiêng liêng nhất của các vương triều xưa trên vùng đất này. Wat Phu còn được gọi là Chùa Núi, nằm dưới chân của một núi thiêng gọi là Phu Kao (Núi Voi). Theo các nhà sử học, Wat Phou là đền thờ xưa nhất ở Lào, từng là trung tâm của đạo Hinđu, thờ thần Shiva. Đến thế kỷ 13, Wat Phu trở thành đền thờ Phật và tồn tại cho đến ngày nay, trở thành một trong những nơi lưu giữ các giá trị về lịch sử và văn hóa Lào. Chăm pa sắc sở hữu “một viên ngọc quý” nữa là thác Khone Phapheng – thác lớn nhất Đông Nam Á, nối hai bờ của sông Mê Kông với 2 tỉnh Chăm Pa sắc và Stưng Teng của Campuchia

Tỉnh Chăm pa sắc còn có Xì phăn đon. Trong tiếng Lào, Xì phăn đon có nghĩ là “bốn ngàn hòn đảo”. Và đúng như tên gọi của nó, vùng đất nằm dọc sông Mê Kông này có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ mà trong đó được du khách biết đến nhiều nhất có lẽ là hai đảo Đon Khone và Đon Deth. Ở Chăm pa sắc có nhiều lễ hội lớn diễn ra quanh năm như: Lễ hội buôn Wat Phou tháng 2, Lễ hội buôn Pha Veat tháng 3, Lễ hội đón năm mới tháng 4, Lễ hội buôn Bang Phai tháng 5, Lễ hội buôn Khao Phan Sa tháng 6, Lễ đua thuyền tháng 10…

Trung tâm tỉnh lỵ Pắc sế có rất nhiều nhà hàng và khách sạn với giá cả hợp lý; như nhà hàng Hua Phae Khom Pong – một nhà hàng nổi nằm trên sông Mê kông; khách sạn Chăm pa sắc Palace là khách sạn lớn và nổi tiếng với 1000 cửa sổ và có sân bay trực thăng trên sân thượng khách sạn.

- Dân số: hơn 650.000 người

- GDP (2010): 12,3%

- Thu nhập bình quân đầu người: 1.230 USD (2010)

 

 

 

Một số thông tin về Đài Loan

Đài Loan thuộc khu vực Thái Bình Duơng, phía nam giáp với Biển Đông và phía đông giáp với Trung Hải. Đài Loan còn một số đảo nhỏ ở kế bên như: Lan Tư, Lục Đại, quần đảo Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ…

Địa lý

Đài Loan thuộc khu vực Thái Bình Duơng, phía nam giáp với Biển Đông và phía đông giáp với Trung Hải. Đài Loan còn một số đảo nhỏ ở kế bên như: Lan Tư, Lục Đại, quần đảo Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ… Đài Loan thuờng có bão lũ và động đất xảy ra dữ dội trên bán đảo.

Đài Loan hình dáng nhìn như một chiếc lá của cây thuốc lá thu hẹp ở hai đầu. Nằm ở miền đông nam duyên hải Trung Quốc, phía bắc là Nhật Bản, phía nam là Phi, vì vậy Đài Loan là nơi nghỉ chân của nhiều chuyến bay Châu Á quốc tế. Đài Loan có dân số là 23 triệu người. Ngôn ngữ lưu hành hiện nay là tiếng Phổ Thông, tiếng Đài Loan, Hakka và tiếng thổ dân.
 
Hơn hết, hòn đảo này được bao bọc bởi biển và gió mát quanh năm. Xứ nhiệt đới này chắc chắn sẽ làm khách quên đi thời tiết lạnh lẽo và sự khô nóng ở quê nhà. Bạn sẽ thích ánh nắng ấm chan hòa tại đây.
 
Tổng diện tích: 36.000 km vuông.

Thủ đô: Đài Bắc

            thu do dai bac.jpg

Tiền tệ: đôla Đài Loan.

Dân số

Đảo Đài Loan người đông đất ít. Tính đến cuối năm 2001, dân số Đài Loan là 22,4 triệu người, trung bình mỗi một kilômét vuông có 619 người.

Cơ cấu tuổi tác của dân số Đài Loan có xu thế già hoá. Đến cuối năm 2001, tỷ lệ dân số từ 0-14 tuổi giảm xuống còn 25,8%, tỷ lệ dân số từ 15-64 tuổi tăng lên đến 67,4%, và tỷ lệ dân số trên 65 tuổi tăng lên đến 6,8%.
 
Dân số Đài Loan rải rác không đồng đều ở các khu vực. Vùng núi có diện tích chiếm 1/3 tổng diện tích Đài Loan, có độ cao so với mặt biển trên 1000 mét, nhưng trung bình mỗi một kilômét vuông chỉ có hơn 20 người. Còn ở thành thị, mỗi một kilômét vuông có hơn 4800 người, nhất là ở thành phố Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung, Cơ Long, Tân Trúc, Gia Nghĩa, Đài Nam, dân số càng đông. Diện tích của 7 thành phố nói trên chỉ chiếm 2,9% tổng diện tích cả tỉnh, nhưng dân số chiếm 31% tổng dân số Đài Loan.
     
Đài Loan có nhiều dân tộc, chủ yếu là dân tộc Hán, dân tộc Mông Cổ, dân tộc Hồi, dân tộc Mèo, dân tộc Cao Sơn v.v. Trong đó dân số dân tộc Hán chiếm trên 97% tổng dân số. Cộng đồng dân tộc Hán chủ yếu gồm người miền nam Phúc Kiến và người Khách Gia. Phần lớn người miền nam Phúc Kiến có quê quán Thuyền Châu hoặc Chương Châu tỉnh Phúc Kiến, và phần lớn người Khách Gia có quê quán Mai Châu và Triều Châu tỉnh Quảng Đông.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thức được dùng tại Đài Loan là tiếng Phổ thông Trung Quốc (người Đài Loan gọi là Quốc Ngữ), tiếp theo đó là tiếng Mẫn Nam (tức tiếng Phúc Kiến), tiếng Khách Gia (tiếng huyện Mai, tỉnh Quảng Đông) và một bộ phận nhỏ nói tiếng Cao Sơn (tiếng bản địa, thứ tiếng của dân tộc thiểu số) do đại bộ phận người Đài Loan được di cư từ tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông sang.

Tôn giáo

Do ảnh hưởng Trung Quốc nên đa số dân chúng theo Phật giáo và do phần đông dân cư Đài Loan hiện nay di cư từ Phúc Kiến và Quảng Đông sang nên khi định cư họ mang theo tôn giáo của mình tới Đài Loan: Thờ Mẫu Tổ 媽祖 (Thánh Mẫu Nương Nương), Thánh Cung (Quan Vân Trường) và Phật.

taiwan fucucius temple.jpg

                                                          Đền Fucucius của Đài Loan

Thiên nhiên 

Bạn có thể đi bộ dọc bãi biển, đi dã ngoại, cắm trại hay leo núi nếu bạn thuộc tuýp người thích các chuyến phiêu lưu mạo hiểm. Những hàng cây xanh mát và vùng rừng nhiệt đới được chính phủ bảo vệ sẽ đem lại cho khách một không khí thoải mái, thoáng đãng và hoàn toàn trong sạch.

Các suối nước nóng, được mệnh danh là giọt nước mắt của mẹ mặt đất, là một trong những món quà quý hiếm mà thiên nhiên đã ưu đãi và ban tặng cho hòn đảo này. Kể từ thời khai thiên lập địa, con người đã biết về tính cải lão hoàn đồng và tính chất chữa bệnh từ những nguồn tài nguyên thiên tạo này. Đài Loan được liệt kê vào hàng tốp 15 những nước có nguồn suối nóng đẹp và sạch nhất thế giới. Suối nước nóng của xứ này vô cùng đa dạng với suối nước nóng, nước lạnh, nước bùn, v.v… 

         suoi-nuoc-nong-peitou.jpg

                                                           Suối nước nóng Peitou

Thiên nhiên. Đó chính là một trong các điểm thu hút lớn khách quốc tế đến với Đài Loan. Trên núi và trong rừng có khoảng 18,400 các loại sinh vật khác nhau với khoảng 20% là các giống quý hiếm được liệt kê trong sách đỏ cần bảo vệ. Ngọn núi Ngọc Bích cao 4000 thước là ngọn cao nhất vùng Đông Bắc Á. Khách lên tàu hỏa lên núi và đi bộ trên sườn đồi vào buổi xế chiều để tận mắt chiêm ngưỡng bình minh trên đỉnh này. Các nhà thơ đã ví nó như là ranh giới giữa thiên đàng và hạ giới giao thoa nhau khi lớp lới mây hờ hững trôi trên đỉnh và những giọt nắng cuối ngày từ từ lịm dần rồi bị đất nuốt chửng.

Nằm gần vùng sườn đồi núi là phong cảnh quốc gia Mao Linh, nơi có nhiều thổ dân Đài Loan sinh sống. Tại đây bạn sẽ gặp rất nhiều loại bướm đa dạng cùng những căn nhà đá Lukai. Các truyền thuyết mà dân bản xứ truyền miệng nhắc nhiều đến vẻ đẹp hoang sơ và mộc mạc của Alishan. Bạn có thể xem chim ưng và đại bàng gần đỉnh Bát Quái, nơi có trái cây thơm ngon và tu viện. Gần đó là dãy núi Sư Tử với nhiều mặt khác nhau nói lên vẻ đẹp thoát tục của tạo hoá.

           Taiwan_Taroko-National-Park.jpg

                                                     Công viên quốc gia Taroko

Ngoài ra bạn cũng có thể đứng trên vách hồ Nhật Nguyệt và thung lũng Kẻ Nứt Đông để chiêm ngưỡng thiên nhiên và văn hoá con người, hoặc lên tàu thuỷ đến đảo nhỏ Kiến Môn và Bằng Hoa. Đảo Bằng Hoa gồm 64 tiểu đảo khác nhau. Nó không có đồi núi mà chỉ là một vùng đồng bằng. Chính phủ đã khai thác tối đa tiềm lực của vị thế này với những chuyến đi xem cá voi và lặn xuống đáy biển. Những ngày hội và các món đặc sản xứ Đài đang chờ quý vị tại Siraya. Tại đây là những đụn cát , vùng đất ẩm, và bờ cát lả lướt. Được biết Đài Loan có 7 công viên quốc gia. Trong số 7 công viên trên, có nơi gồm núi lửa đã ngừng hoạt động, trong khi những nơi khác nổi tiếng với các loại cá hiếm quý và phong cảnh thung lũng. Điển hình là công viên quốc gia đảo san hô Đông Sa được thiết lập năm 2007 ở phí bắc vùng Biển Hoa Nam, đánh dấu hướng mở ra phía nam của eo biển Đài Loan. Ở đây có những vùng cát trắng được tạo nên từ các san hô và vỏ sò.

        Dai Loan - Nhat Nguyet Dam.jpg

                                                      Nhật Nguyệt Đàm, Đài Loan
Ẩm Thực 

Khía cạnh văn hoá là một điều mà khách không thể bỏ qua. Sự hội nhập của văn hoá Hakka, Đài Loan, thổ dân và người Hoa đã tạo nên một đặc điểm văn hoá giàu có và nhiều màu sắc. Và không có gì khác hơn ẩm thực nói lên được sư lai tạo của văn hoá này. Khách có thể đến để ăn những món quen thuộc từ tỉnh Quảng Đông, Hồ Nam, Thượng Hải, Bắc Kinh cũng như các món đặc sản của từng vùng.Văn hoá của các quốc gia trên thế giới cũng được thể hiện và đại diện để thỏa mãn sự thèm muốn của khách. Và vì vậy, thật khó để bạn chọn chỉ một nơi để ăn uống. Từ các loại thực phẩm quốc tế đến những món sang trọng Trung Hoa hay món ăn chơi xứ Đài, khách sẽ gặp không ít khó khăn để chọn lựa. 

           taiwan food.jpg

Đối với người Đài Loan, ăn uống là một nghệ thuật và là một cách thể hiện văn hóa. Vì Đài Loan có lịch sử lau đời nên ẩm thực cũng khá đa dạng. Không chỉ tại đây có các món Trung Quốc mà còn là nơi hội tụ của những đặc sản khác trên thế giới. Nếu bạn muốn thử một món nào khác khẩu vị quen thuộc của mình, Đài Loan có tất cả. Bạn chỉ cần xem mình thích món Mỹ, Châu Âu, Ý, Đông Á, hay vùng Mediterranenan. Chẳng lạ gì khi có người đã gán cho nước này là “Cộng Hoà Ẩm Thực Quốc Tế.”

Tại Đài Loan, kỹ thuật nấu từ các vùng Trung Quốc hội tụ và người Đài không chỉ thông thạo được các kỹ thuật trên mà còn thêm những cái mới lạ cho món ăn của mình. Vì thế hàng năm Đài Loan thu hút nhiều khách du lịch ghé thăm để thưởng thức các món ăn Trung Hoa độc đáo từ bánh bao hấp nhỏ đến thịt viên đun sôi.

Cảnh Vật Tham Quan 

Đài Loan không chỉ có thiên nhiên và ẩm thực, các thành phố như thủ đô tấp nập Đài Bắc cũng là một thắng cảnh khác mà khách có thể viếng thăm. Tại Đài Bắc có Viện Bảo Tàng Quốc Gia, một trong những viện bảo tàng lớn nhất thế giới và là nơi cất giữ 5000 năm lịch sử Trung Hoa. Ở đó cũng có vô số các tuyệt tác nghệ thuật Trung Quốc, mở ra một chương quan trọng thuộc quá khứ vàng son của văn hoá ấy.

Gần như bất kỳ thành phố lớn nào ở xứ này cũng đều có con sông đi ngang qua. Điển hình như tạo Kaohsiung, có con sông Tình Ái nhẹ nhàng trôi và lấp lánh ánh sáng mỗi buổi hoàng hôn hay bình minh. Dòng sông này được hoàng đế nhà Thanh đặt tên là Da Gou và sau này được người Nhật goị là Takao. Nó cũng còn có tên là Kênh Đào Kaohsiung. Sau khi Đài Loan được tái thiết, con sông này trở nên đẹp đẽ và lãng mạn. Nó được phát triển thành một khu công viên và được trang trí bằng những cột cao mắc xích sắt. Nhiều bạn trẻ đã tìm đến đây để hò hẹn và tỏ tình. 

            Love River 1.jpg

                                                          Dòng sông Tình Ái

Phân chia hành chính

Để tiện quản lý hành chính, Đài Loan chia toàn lãnh thổ đảo thành ba khu hành chính: gồm Đài Bắc, Đài Trung và Đài Nam. Đài Bắc là khu vực phát triển nhất và tập trung nhiều khu công nghiệp ở đó. Đài Bắc còn có một ngành điện ảnh phát triển. Đài Trung cũng có khu công nghiệp nhưng ít hơn ở Đài Bắc. Đài Nam chủ yếu là vùng nông nghiệp.

Về đơn vị hành chính, phần lãnh thổ Trung Quốc mà chính quyền Đài Loan quản lý được chia thành tỉnh Đài Loan, tỉnh Phúc Kiến, thành phố Đài Bắc, và thành phố Cao Hùng. Tỉnh Đài Loan lại được chia thành 16 huyện và 5 thành phố trực thuộc tỉnh. Tỉnh Phúc Kiến được chia thành 2 huyện. Thành phố Đài Bắc được chia thành 12 khu. Thành phố Cao Hùng được chia thành 10 khu. Các huyện lại được chia thành thành phố trực thuộc huyện (縣轄市), trấn (鎮) và hương (郷). Hiện thành phố trực thuộc huyện của Đài Loan gồm có 32 đơn vị. Các thành phố trực thuộc huyện được chia thành các lý (里) nhưng đây không hoàn toàn là một đơn vị hành chính thực thụ.

         thanh pho cao hung.jpg

                                              Vẻ đẹp về đêm của thành phố Cao Hùng

Kinh tế 

Trong 5 thập niên qua, Đài Loan chuyển mình từ một nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển sang một nước công nghiệp phát triển, trong đó các ngành sản xuất là thành phần chính tạo thành điều được gọi là 'phép lạ kinh tế Đài Loan.

Trong thập niên 1960, nhờ đầu tư nước ngoài, nhiều ngành kỹ thuật tiên tiến được đưa vào Đài Loan. Chẳng mấy chốc, đảo quốc trở thành một trong những nước xuất cảng chính các loại máy móc điện tử, thiết bị điện và sản phẩm bằng plastic.
 
Sang thập niên 1970, chính phủ Đài Loan tài trợ những dự án quy mô trong các ngành công nghiệp cơ bản như hoá dầu, luyện sắt thép, đóng tầu và tạo điều kiện thuận lợi cho kỹ nghệ đóng xe hơi trong nước lớn mạnh hơn nữa.
 
Thập niên 1980 đánh dấu thời kỳ tăng triển mạnh các ngành kỹ nghệ điện tử, chế tạo máy và tin học ở Đài Loan.
 
Một yếu tố quan trọng phải nói tới, với sự phát triển nhanh chóng của ngành dịch vụ trong thập niên 1990, kinh tế Đài Loan không còn chỉ dựa trên căn bản các ngành công nghiệp sản xuất như trước.
 

Ngày nay, 55% lực lượng lao động được tuyển dụng trong ngành dịch vụ. Phần đông làm việc tại các tiệm buôn sỉ và lẻ, cửa hàng ăn và khách sạn. Ngoài ra, một số lớn nhân viên được thu dụng vào các cơ quan xã hội, phục vụ cá nhân cũng như cộng đồng, những công ty tài chính, bảo hiểm và bất động sản.

Theo dự đoán, điện tử, tin học và thông tin sẽ là những ngành góp phần phát triển kinh tế Đài Loan trong tương lai trước mắt.
Là một hòn đảo tương đối nhỏ, kinh tế Đài Loan lệ thuộc rất nhiều vào thương mại. Số hàng bán sang Trung Quốc chiếm gần một phần tư tổng khối lượng xuất cảng của Đài Loan. Thương gia Đài Loan cũng bỏ rất nhiều vốn đầu tư vào Hoa Lục. Do đó, làn sóng công nghiệp hóa ở Trung Quốc đang cống hiến cho Đài Loan cơ sở sản xuất, với chi phí thấp, đồng thời bản thân Hoa Lục cũng là thị trường nhiều hứa hẹn cho Đài Loan.

Chính Trị

Hệ thống chính trị ở Đài Loan dựa trên cơ sở hiến pháp ban hành năm 1947. Văn kiện này quy định một cơ cấu gồm nội các song hành với hệ thống các ban ngành trong chính phủ. Tất cả công dân trên 20 tuổi đều có quyền đi bầu. Đầu thập niên 1990, Đài Loan chuyển từ nhà nước độc đảng sang thể chế dân chủ.

Những cơ quan chính trong chính phủ gồm Phủ Tổng thống; Quốc hội (hội đồng hiến pháp); và năm cơ quan điều hành là Viện Lập pháp (Quốc hội); Viện Hành pháp (Nội các); Viện Tư pháp (cơ quan luật pháp ở cấp cao nhất của nhà nước); Viện Giám sát (đặc trách giám sát Công vụ); và cơ quan Kiểm sát (đặc trách buộc tội, phê bình và kiểm toán.)

          toa nha phu chu tich dai bac.jpg

                                             Tòa nhà phủ chủ tịch Đài Bắc, Đài Loan

Thủ tướng và phó thủ tướng cầm đầu nội các. Các thành viên trong nội các không do dân bầu mà được chỉ định.

Tất cả các đạo luật của Quốc hội phải được tổng thống ký thành luật. Ngoài ra, tổng thống là người có thẩm quyền chung quyết trong các vấn đề liên quan đến quân đội và an ninh quốc gia.
 

 

Tỉnh Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)

Tỉnh Đài Loan (Trung văn giản thể台湾省Trung văn phồn thể臺灣省 hoặc 台灣省bính âmTáiwān Shěng) là một trong hai tỉnh của Trung Hoa Dân Quốc (sau đây gọi tắt là tỉnh Đài Loan). Tỉnh chiếm xấp xỉ 73% diện tích được kiểm soát bởi Trung Hoa Dân Quốc. Tỉnh bao gồm phần lớn đảo Đài Loan cũng như tất cả các đảo nhỏ xung quanh, lớn nhất trong đó làquần đảo Bành Hồ. Tỉnh Đài Loan không bao gồm hai huyện Kim Môn vàLiên Giang; hai huyện trên thuộc tỉnh tỉnh Phúc Kiến của Trung Hoa Dân Quốc. Tỉnh cũng không bao gồm các Thành phố trực thuộc trung ương làĐài BắcCao HùngĐài TrungĐài Nam và Tân Bắc, mặc dù tất cả các thành phố trên đều nằm trên đảo Đài Loan.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) tuyên bố toàn bộ đảo Đài Loan và các hòn đảo nhỏ quanh nó – bao gồm cả quần đảo Bành Hồ - là một phần của tỉnh Đài Loan thuộc nước này. CHNDTH tuyên bố rằng họ là chính quyền hợp pháp duy nhất tại Trung Quốc sau khi thành lập vào năm 1949, và do đó Đài Loan là một phần của Trung Quốc. CHNDTH không thừa nhận bất kỳ thay đổi hành chính của tỉnh Đài Loan được Trung Hoa Dân Quốc thực hiện sau năm 1949. Như vậy, việc Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung, Đài Nam, Tân Bắc tách khỏi tỉnh và trở thành phố trực thuộc trung ương không được sự công nhận của CHNDTH và các thành phố vẫn được thể hiện như là một phần của tỉnh Đài Loan trong các ấn phẩm do CHNDTH phát hành. Ngoài ra, CHNDTH vẫn coi Đài Bắc là thủ phủ của tỉnh Đài Loan thay vì thôn Trung Hưng (thủ phủ của tỉnh Đài Loan theo quan điểm của Trung Hoa Dân Quốc). Điều này tương tự như việc Trung Hoa Dân Quốc in ấn các bản đồ thể hiện địa giới hành chính các tỉnh củaTrung Quốc đại lục như trước biến cố 1949.

 

Những món ăn cực ‘độc’ chỉ có tại Nhật Bản

1. Kem vị thịt

 

Xem thêm

Bốn chuyện lạ ở đất nước Nhật Bản

Văn hoá xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Xem thêm

13 điều đáng học hỏi ở người Nhật

3386873532cee1877f3d-805795-1372439642_500x0

Đất nước và con người xứ sở mặt trời mọc khiến cả thế giới phải nể phục. xin giới thiệu tới các bạn một số điều mà chúng ta cần học hỏi từ người Nhật.

1. Bạn có biết rằng trẻ em Nhật làm vệ sinh trường học của chúng mỗi ngày trong vòng 45 phút cùng giáo viên, điều này mở ra một thế hệ người Nhật khiêm tốn và ưa thích sự sạch sẽ.

 

Xem thêm

Từ mượn trong ngôn ngữ Nhật Bản (gairaigo)

Từ và các cụm từ mượn của nước ngoài, gọi là gairaigo, đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong tiếng Nhật. Thông thường, từ mượn của Trung Quốc không được coi là gairaigo vì nhiều tới mức không thể đếm được và lại được viết bằng chữ Hán, nên không thể phân biệt được với những từ bản địa. Những từ mượn quan trọng nhất là từ xuất phát từ tiếng Anh và tiếng Pháp.

Xem thêm

Những cử chỉ khi cần biết khi giao tiếp với người Nhật:

Những cử chỉ khi cần biết khi giao tiếp với người Nhật:

Xem thêm

Các thể hiện để gây thiên cảm với người Nhật Bản

Người Nhật trong làm việc rất chú trọng những hành động, tiếp xúc, giao tiếp, cử chỉ chào hỏi, ăn nói với người đối diện. Họ luôn ý thức được rõ vị trí của mình và thường thẳng thắn đi thẳng vào vấn đề cần trao đổi

Xem thêm

Học gì từ người Nhật khi sang đó làm việc?

Tôn trọng quyết định của nhóm

Nhật Bản là một xã hội luôn nhấn mạnh “Chúng tôi” thay vì “Tôi”. Các quyết định quan trọng thường được thảo luận và chỉ khi có sự nhất trí thì mới được đưa ra. Họ không phân biệt bạn là người Nhật Bản hay là du học sinh đến từ nước khác. Cũng vì mọi kết quả đều là nỗ lực của cả tập thể nên sẽ không phù hợp khi bạn ngợi khen một cá nhân cụ thể.

Xem thêm

Những điều cần biết về Đài Loan

Taipei101

Vị trí địa lý: Lãnh thổ Đài Loan bao gồm một quần đảo nằm ở phía Đông Nam Trung Quốc, trong đó Đài Loan là đảo lớn nhất, cách lục địa Trung Quốc khoảng 160 km, cách Philippin 350km về phía Nam và cách Nhật Bản 1070km về phía Bắc. Tổng diện tích: 38.000km2.

Xem thêm

Cùng tìm hiểu vẻ đẹp tuyệt mỹ và sự sống mong manh của hoa Anh đào

anh-dao

Hoa anh đào sắp nở rộ ở Nhật Bản. Hoa là hình ảnh gây cảm xúc đặc biệt thấm thía với người Nhật. Dù nở lúc thái bình, hoa cũng mang đến nét buồn phảng phất giữa không khí hội hè, bởi nó rụng đúng độ nhan sắc tuyệt mỹ.

Hoa anh đào sắp nở rộ ở Nhật Bản. Hoa là hình ảnh gây cảm xúc đặc biệt thấm thía với người Nhật. Dù nở lúc thái bình, hoa cũng mang đến nét buồn phảng phất giữa không khí hội hè, bởi nó rụng đúng độ nhan sắc tuyệt mỹ.

Hoa anh đào là hiện thân của một ý niệm có vai trò trung tâm trong văn hóa Nhật – hakanasa – một từ rất khó dịch, nó chuyển tải một cảm giác mong manh, thậm chí là phù du, của cuộc đời.

Xem thêm

Lễ nghi cưới hỏi của người Nhật Bản

Trung bình khoảng 500 man yên ( 1 man là 10.000 yên) là khoảng 1.1 tỷ VNĐ. Đây chỉ là con số khoảng chừng thôi, có người tiết kiệm làm ít đi còn có người khá giả làm nhiều hơn số tiền này! 

Xem thêm

Giao tiếp cơ bản của tiếng Nhật

  Người Nhật rất quan trọng chuyện chào hỏi. Thậm chí dù rằng bạn hoàn toàn xa lạ chẳng quen chẳng biết họ, ấy thế mà họ vẫn chào bạn khi vô tình gặp nhau. Những câu nói sau là những câu bạn phải xã giao hằng ngày.

Xem thêm

Cùng tìm hiểu vẻ đẹp tuyệt mỹ và sự sống mong manh của hoa Anh đào

anh-dao

Hoa anh đào sắp nở rộ ở Nhật Bản. Hoa là hình ảnh gây cảm xúc đặc biệt thấm thía với người Nhật. Dù nở lúc thái bình, hoa cũng mang đến nét buồn phảng phất giữa không khí hội hè, bởi nó rụng đúng độ nhan sắc tuyệt mỹ.

Xem thêm

Tại sao người già Nhật vẫn ham mê với công việc

vlam

Những người già ham thích làm việc như ông Kobuna không hiếm trong xã hội Nhật Bản và nhờ họ, chính phủ Nhật Bản đã không gặp khó khăn như một số chính phủ ở châu Âu trong việc thuyết phục người dân đồng ý tăng tuổi nghỉ hưu.

Xem thêm